TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1113/2025/DS-ST
Ngày: 27-6-2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lệ Quyên
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Đặng Thị Thu Oanh
- Ông Trần Đăng Vạn
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Ngọc H - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 3044/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 12 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5496/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP H2
Trụ sở: số E N, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Đào Anh T, ông Nguyễn Hùng C, ông Nguyễn Hữu Ơ là đại diện ủy quyền theo Văn bản ủy quyền số 5169/2024/GUQ-TGDD12 ngày 20/6/2024
Địa chỉ liên hệ: Tầng A Tòa nhà T, số A N, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. - Bị đơn: bà Trần Thị H1, sinh năm 1976
Địa chỉ: số D Đường A, Khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có ông Nguyễn Hùng C trình bày:
Ngày 11/7/2022, Ngân hàng TMCP H2 - Chi nhánh S (sau đây viết tắt là M) và bà Trần Thị H1 đã ký kết Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB có nội dung như sau:
- Hạn mức thẻ đề xuất: 140.000.000 đồng;
- Mục đích vay vốn: Tiêu dùng;
- Thời hạn vay: 36 tháng;
- Lãi suất vay: Căn cứ Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB ngày 11/7/2022 và Biểu phí thẻ tín dụng MSB thì bà H1 sử dụng loại thẻ MasterCard Super Free, lãi suất áp dụng là 40%/năm;
- Lãi suất quá hạn: 145% lãi suất trong hạn.
Ngày 27/7/2022, M và bà H1 tiếp tục ký kết Hợp đồng tín dụng hạn mức số 05667/HĐTD/2022/HĐTCHM/RB/3164522 có nội dung như sau:
- Hạn mức vay: 150.000.000 đồng;
- Mục đích vay vốn: phục vụ đời sống;
- Thời hạn duy trì hạn mức thấu chi: 12 tháng (từ ngày 25/7/2022 đến 25/7/2023);
- Lãi suất vay: Là lãi suất thả nổi và được tính trên dư nợ gốc thực tế giảm dần; Lãi suất thấu chi trong hạn là 23%/năm. MSB có quyền điều chỉnh lãi suất thấu chi trong hạn; Lãi suất được điều chỉnh định kỳ 1 tháng/lần vào ngày cuối cùng của kỳ điều chỉnh lãi suất;
- Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất thấu chi trong hạn;
- Phương thức trả nợ: Nợ gốc trả vào cuối kỳ hoặc vào ngày theo thông báo của M trong trường hợp chấm dứt hợp đồng thấu chi trước hạn. Nợ lãi trả vào ngày cuối cùng của tháng căn cứ số dư trên tài khoản thấu chi.
Thực hiện hợp đồng:
Ngày 25/7/2022, M đã thực hiện cấp thẻ tín dụng hạn mức 65.000.000 đồng cho bà H1 theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB ngày 11/7/2022. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà H1 đã thanh toán cho M tổng số tiền là 2.536.044 đồng (trong đó gồm có: gốc 9.754 đồng, lãi 2.526.290 đồng, lãi phạt 0 đồng). Từ ngày 05/01/2023, bà H1 đã vi phạm Điều khoản điều kiện giao dịch chung về việc cấp tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại MSB, do bà H1 không thanh toán các khoản nợ gốc và lãi theo đúng 04 kỳ sao kê liên tiếp nên từ ngày 05/5/2023, MSB chuyển toàn bộ nợ gốc sang nợ quá hạn và áp dụng mức lãi suất quá hạn.
Ngày 27/7/2022, M đã thực hiện cấp hạn mức thấu chi số tiền là 150.000.000 đồng cho bà H1 theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 05667/HĐTD/2022/HĐTCHM/RB/3164522 ngày 27/7/2022. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà H1 đã thanh toán cho M tổng số tiền là 8.906.118 đồng (trong đó gồm có: gốc 2.225 đồng, lãi 8.903.893 đồng, lãi phạt 0 đồng). Từ ngày 26/7/2023, bà H1 đã hết thời hạn duy trì hạn mức thấu chi nhưng vẫn chưa tất toán khoản vay.
Việc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết, kế hoạch trả nợ với MSB của bà H1 đã vi phạm các điều khoản cam kết trong hợp đồng tín dụng gây
thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của M. Vì vậy, Ngân hàng TMCP H2 yêu cầu bà H1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP H2 tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi tạm tính đến ngày 18/4/2025 là 424.352.169 đồng theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 05667/HĐTD/2022/HĐTCHM/RB/3164522 ngày 27/7/2022 và theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB ngày 11/7/2022. Kể từ ngày 19/4/2025 cho đến khi thanh toán hết nợ, bà H1 phải chịu lãi suất quá hạn theo thỏa thuận quy định tại các hợp đồng đã ký kết.
Ngân hàng xác định đây là khoản vay cá nhân với mục đích tiêu dùng, Ngân hàng xác định chỉ khởi kiện yêu cầu cá nhân bà H1 phải trả nợ, không yêu cầu chồng của bà H1 (nếu có) liên đới trách nhiệm trả nợ.
Bị đơn – bà Trần Thị H1: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập cho bà H1 đến Tòa án để trình bày lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa:
Những người đại diện hợp pháp của nguyên đơn gồm: ông Đào Anh T, ông Nguyễn Hùng C, ông Nguyễn Hữu Ơ có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Ông Nguyễn Hùng C có nộp cho Tòa án bảng tính lãi chi tiết đối với bị đơn bà Trần Thị H1 tính đến hết ngày Tòa án xét xử vụ án (ngày 27/6/2025).
Bị đơn bà Trần Thị H1 vắng mặt không có lý do.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh:
Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Xác định đúng người tham gia tố tụng. Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án đã vi phạm về thời hạn xét xử nhưng một phần do bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.
Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự, đơn xin vắng mặt là hợp lệ. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định.
Về nội dung: Bị đơn vi phạm nghiêm trọng các nội dung trong Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB ngày 11/7/2022 và Hợp đồng tín dụng hạn mức số 05667/HĐTD/2022/HĐTCHM/RB/3164522 ngày
27/7/2022 gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ngân hàng TMCP H2 khởi kiện bà Trần Thị H1 yêu cầu thanh toán các khoản nợ vay theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB ngày 11/7/2022 và Hợp đồng tín dụng hạn mức số 05667/HĐTD/2022/HĐTCHM/RB/3164522 ngày 27/7/2022. Bà H1 có nơi cư trú cuối cùng tại phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên xác định đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về thủ tục tố tụng: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn gồm ông Đào Anh T, ông Nguyễn Hùng C, ông Nguyễn Hữu Ơ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Trần Thị H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
Trong vụ án này, nguyên đơn khởi kiện bà Trần Thị H1, yêu cầu bà H1 thanh toán các khoản nợ do bà H1 vay và xác định chỉ yêu cầu cá nhân bà H1 trả nợ, nguyên đơn không xác định được chồng của bà H1 là ai và không yêu cầu chồng của bà H1 (nếu có) cùng trả nợ. Do đó, không có cơ sở triệu tập chồng của bà H1 (nếu có) tham gia tố tụng trong vụ án này.
- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa và lời trình bày, xác nhận của người đại diện hợp pháp của các đương sự, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Ngân hàng TMCP H2 có cho bà Trần Thị H1 vay tiền theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB ngày 11/7/2022 và Hợp đồng tín dụng hạn mức số 05667/HĐTD/2022/HĐTCHM/RB/3164522 ngày 27/7/2022. Xét hợp đồng tín dụng nêu trên giữa các bên có hình thức đúng quy định của pháp luật, nội dung các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng không vi phạm điều cấm của pháp luật, các bên tự nguyện ký kết Hợp đồng tín dụng nên Hợp đồng tín dụng này phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
- Đối với khoản nợ thẻ theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB ngày 11/7/2022: Trong quá trình sử dụng thẻ, bà H1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 2.536.044 đồng (trong đó gồm có gốc: 9.754
đồng, lãi: 2.526.290 đồng, lãi phạt: 0 đồng) sau đó thì không trả nữa. Từ ngày 05/01/2023 bà H1 đã vi phạm Điều khoản điều kiện giao dịch chung về việc cấp tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại MSB, qua 04 kỳ sao kê liên tiếp bà H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn và áp dụng mức lãi suất quá hạn từ ngày 05/5/2023. Tính đến ngày Tòa án xét xử vụ án (ngày 27/6/2025), bà H1 còn nợ Ngân hàng với tổng số tiền 162.622.382 đồng (gồm: 64.990.246 đồng nợ gốc, 6.429.900 đồng nợ lãi trong hạn và 91.202.236 đồng nợ lãi quá hạn).
- Đối với khoản nợ vay theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 05667/HĐTD/2022/HĐTCHM/RB/3164522 ngày 27/7/2022: Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà H1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 8.906.118 đồng (trong đó gồm có: gốc 2.225 đồng, lãi 8.903.893 đồng, lãi phạt 0 đồng) sau đó thì không trả nữa. Từ ngày 26/7/2023 bà H1 đã hết thời hạn duy trì hạn mức thấu chi nhưng vẫn chưa tất toán khoản vay. Tính đến ngày Tòa án xét xử vụ án (ngày 27/6/2025), bà H1 còn nợ Ngân hàng với tổng số tiền 162.622.382 đồng (gồm: 149.997.775 đồng nợ gốc, 26.216.769 đồng nợ lãi trong hạn và 104.003.937 đồng nợ lãi quá hạn).
Như vậy, tính đến hết ngày 27/6/2025, bà H1 còn nợ Ngân hàng TMCP H2 tổng số tiền là 442.840.863 đồng (trong đó gồm: tổng nợ gốc là 214.988.021 đồng, tổng nợ lãi trong hạn là 32.646.669 đồng và tổng nợ lãi quá hạn là 195.206.173 đồng).
Xét phía bà H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại Điều 7 Điều khoản điều kiện giao dịch chung về việc cấp tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại MSB được đính kèm Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB ngày 11/7/2022 và Điều 3 của Hợp đồng tín dụng hạn mức số 05667/HĐTD/2022/HĐTCHM/RB/3164522 ngày 27/7/2022. Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà H1 đều vắng mặt và không gửi ý kiến, giấy tờ tài liệu liên quan đến tranh chấp nêu trên cho Tòa án. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu bà H1 thanh toán toàn bộ số tiền gốc và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết là phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và các quy định của pháp luật nên có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Căn cứ hướng dẫn tại Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì việc nguyên đơn yêu cầu phía bị đơn phải trả khoản lãi phát sinh kể từ ngày 28/6/2025 trên số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất nợ quá hạn quy định trong hợp đồng cho đến khi thi hành án xong là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại Điều 466 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn bà Trần Thị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 20.000.000 đồng + 4% x (442.840.863 đồng – 400.000.000 đồng) = 21.713.635 đồng.
Ngân hàng TMCP H2 không phải chịu án phí nên được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 4, Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP H2.
Buộc bà Trần Thị H1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP H2 tổng số tiền tính đến hết ngày 27/6/2025 là 442.840.863 đồng (trong đó gồm: tổng nợ gốc là 214.988.021 đồng, tổng nợ lãi trong hạn là 32.646.669 đồng và tổng nợ lãi quá hạn là 195.206.173 đồng) theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB ngày 11/7/2022 và Hợp đồng tín dụng hạn mức số 05667/HĐTD/2022/HĐTCHM/RB/3164522 ngày 27/7/2022. Cụ thể như sau:
- Đối với khoản nợ thẻ theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB ngày 11/7/2022 gồm: 64.990.246 đồng nợ gốc, 6.429.900 đồng nợ lãi trong hạn và 91.202.236 đồng nợ lãi quá hạn;
- Đối với khoản nợ vay theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 05667/HĐTD/2022/HĐTCHM/RB/3164522 ngày 27/7/2022, gồm: 149.997.775 đồng nợ gốc, 26.216.769 đồng nợ lãi trong hạn và 104.003.937 đồng nợ lãi quá hạn.
Kể từ 28/6/2025 cho đến khi thi hành án xong, bà Trần Thị H1 còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB ngày 11/7/2022 và Hợp đồng tín dụng hạn mức số 05667/HĐTD/2022/HĐTCHM/RB/3164522 ngày 27/7/2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP H2 thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.
2. Về án phí: Bà Trần Thị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 21.713.635 đồng, nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền khi án có hiệu lực pháp luật.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP H2 số tiền tạm ứng án phí là 8.376.285 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0068253 ngày 24/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Lệ Quyên |
Bản án số 1113/2025/DS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 1113/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
