Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1111/2024/HS-PT

Ngày: 28 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết

Các Thẩm phán: Ông Vũ Đức Toàn

Bà Nguyễn Thị Thanh

Thư ký phiên tòa: Ông Đàm Lê Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 692/2024/TLPT-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo Huỳnh Văn T và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo Huỳnh Văn T, Vỏ Văn D, Lê Thanh D1 và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 216/2022/HSST ngày 19 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Các bị cáo có kháng cáo, bị kháng nghị:

  1. Huỳnh Văn T; sinh ngày 13/9/1989 tại tỉnh Hậu Giang; Thường trú: Ấp H, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn V và bà Lương Thị T1; Bị cáo có vợ tên Lưu Thị Mỹ L và 01 con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không (vắng mặt).

    Bị bắt, tạm giam từ ngày 14/5/2020

  2. Vỏ Văn D; sinh năm 1981 tại tỉnh Hậu Giang; Thường trú: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn D2 và bà Trần Thị Đ; Bị cáo có vợ tên Trần Thị H và 01 con sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giam từ ngày 14/5/2020; Ngày 14/01/2024 đã chấp hành xong hình phạt tù.
  3. Lê Thanh D1; Sinh ngày 16/02/1990 tại tỉnh Hậu Giang; Thường trú: Ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn P và bà Nguyễn Thị Hồng N; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giam từ ngày 27/4/2020; Ngày 27/03/2024 đã chấp hành xong hình phạt tù.

- Bị cáo bị kháng nghị:

Lưu Thị Mỹ L; Sinh ngày 01/9/1994 tại tỉnh Hậu Giang; Thường trú: Ấp C, xã T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lưu Văn H1 và bà Lý Thị Mỹ H2; Bị cáo có chồng tên Huỳnh Văn T và 01 con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giam từ ngày 26/4/2020; Ngày 26/04/2023 đã chấp hành xong hình phạt tù.

(Trong vụ án còn có 03 bị hại không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Văn T và Lê Phước G là bạn bè quen biết. Do G còn nợ đối tượng T2 (chưa rõ lai lịch) là bạn của T số tiền 408.000.000 đồng về việc đánh bạc được thua bằng tiền thông qua hình thức “cá độ đá gà” qua trang mạng (không rõ trang mạng). T2 nhờ T tìm anh G để đòi số tiền mà anh G còn nợ. T đã nói sự việc trên cho Lưu Thị Mỹ L là vợ của T biết.

Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 23/10/2017, L thấy G đang ăn uống với chị Nguyễn Phương Huy T3, anh Lê Đức L1 cùng vợ là chị Lê Mỹ N1 tại nhà hàng B (số A H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh), L điện thoại cho T biết. Sau đó, T đã rủ Vỏ Văn D, Lê Thanh D1 và các đối tượng H3, H4, C, C1 (chưa rõ lai lịch) cùng nhau đi bắt giữ G đưa về quán Ố (địa chỉ R Đ, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh) để buộc G trả nợ cho T. Do D đang ăn uống nên không đi cùng với T và nói với T là bắt anh G đưa về quán Ố để giải quyết. D1 còn rủ thêm các đối tượng T4, N2, S (chưa rõ lai lịch) đến bắt giữ G.

Tại quán B1, D1, C1, T4, N2 và S đứng ngoài, còn L với T, H3, H4, C và C1 đến chỗ anh G khống chế đưa G ra ngoài đường H, Quận A. Lúc này, G bị nhóm của T bắt giữ đưa đi nên ông L1, bà N1 và bà T3 đã đi theo. T, L, H3, H4, C, C1 đánh G còn D1 khống chế đưa G lên xe mô tô do T điều khiển, C ngồi phía sau giữ G. Do bà T3, bà N1 và ông L1 đòi đi theo, nên D1 chở bà N1, còn 02 đối tượng trong nhóm của T (không xác định là ai) chở ông L1 và bà T3 đến quán Ố, Quận G.

Tại quán Ố, T và D đã đánh anh G, bà N1 can ngăn thì bị Vỏ Văn D dùng tay tát một cái vào mặt. Lúc này, T nói với bà T3, bà N1 và ông L1 là G nợ T số tiền 390.000.000 đồng, nếu G không trả nợ thì không ai được về. Lo sợ bị T và đồng bọn đánh nên ông L1 đã miễn cưỡng đứng ra nhận trả nợ thay cho G. T yêu cầu ông L1 đưa trước 50.000.000 đồng và viết giấy nợ theo mẫu mà T đưa với nội dung: “Tôi (L1) có vay T số tiền 340.000.000 đồng, hẹn 30 tây hàng tháng trả 10.000.000 đồng”, ông L1 đồng ý đưa trước cho T 50.000.000 đồng. Khoảng 02 giờ ngày 24/10/2017, lợi dụng Tâm không chú ý, G đã chạy thoát. T cho bà N1 về lấy tiền và đến khoảng 02 giờ 15 phút cùng ngày, bà N1 quay lại, đưa cho T 30.000.000 đồng. Thì T mới cho ông L1, bà N1 và bà T3 về.

Ngày 25/10/2017, ông L1 làm đơn tố cáo T và đồng phạm có hành vi “Cưỡng đoạt tài sản” và ngày 17/12/2017, ông G cũng có đơn tố cáo T có hành vi “Bắt, giữ người trái pháp luật”.

Tại Bản cáo trạng số: 175/CT-VKS-P2 ngày 25 tháng 3 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Huỳnh Văn T, Lưu Thị Mỹ L, Vỏ Văn D và Lê Thanh D1 về tội: “Bắt, giữ người trái pháp luật” và “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm a khoản 2 Điều 123 và điểm a khoản 3 Điều 135 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 216/2022/HS-ST ngày 19/5/2022, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

  • Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T 05 (năm) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; 04 (bốn) năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội danh là 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/5/2020.
  • Xử phạt bị cáo Lưu Thị Mỹ L 02 (hai) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; 01 (một) năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội danh là 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/4/2020.
  • Xử phạt bị cáo Vỏ Văn D 01 năm 06 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; 03 (ba) năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội danh là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/5/2020.
  • Xử phạt bị cáo Lê Thanh D1 01 (một) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; 02 (hai) năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội danh là 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/4/2020.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, vấn đề bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo bản án theo luật định.

* Sau khi xét xử sơ thẩm:

  • Ngày 30/5/2022, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định kháng nghị phúc thẩm Bản án số 216/2022/HS-ST ngày 19/5/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần áp dụng khung hình phạt và tăng mức hình phạt đối với Huỳnh Văn T, Lưu Thị Mỹ L, Vỏ Văn D và Lê Thanh D1 về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
  • Ngày 01/6/2022, các bị cáo Huỳnh Văn T, Vỏ Văn D, Lê Thanh D1 kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 717/2022/HS-PT ngày 23/9/2022, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, quyết định:

Không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; giữ nguyên quyết định về phần trách nhiệm hình sự của Bản án hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo.

Tại Quyết định Giám đốc thẩm số 12/2024/HS-GĐT ngày 17/6/2024, Tòa án nhân dân tối cao quyết định:

Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 08/QĐ-VKSTC-V7 ngày 19/9/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Hủy một phần Bản án hình sự phúc thẩm số 717/2022/HS-PT ngày 23/9/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử phúc thẩm lại theo hướng xét xử các bị cáo Huỳnh Văn T, Lưu Thị Mỹ L, Vỏ Văn D, Lê Thanh D1 về tội Cưỡng đoạt tài sản theo điểm a khoản 3 Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết lại theo thủ tục chung:

* Tại phiên tòa phúc thẩm lần 2:

  • Các bị cáo Vỏ Văn D, Lê Thanh D1 cho rằng đã chấp hành xong hình phạt tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên nên xin rút kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và đề nghị giữ nguyên mức hình phạt mà Tòa sơ thẩm đã xét xử. Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L2 cũng cho rằng đã chấp hành xong hình phạt tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên nên xin đề nghị giữ nguyên mức hình phạt mà Tòa sơ thẩm đã xét xử.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, sửa bản án hình sự sơ thẩm theo hướng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 135 của BLHS năm 1999 để xử 04 bị cáo Huỳnh Văn T, Lưu Thị Mỹ L, Vỏ Văn D và Lê Thanh D1; Còn mức hình phạt áp dụng đối với 4 bị cáo là tương xứng nên đề nghị giữ nguyên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Bị cáo Huỳnh Văn T đã được triệu tập hợp lệ lần 2, nhưng do bị cáo đang chấp hành án nên không trích xuất tham gia phiên tòa được. Thấy rằng, bị cáo T chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, còn các bị cáo đã rút đơn kháng cáo. Nên Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo theo Điều 292, Điều 293 và 351 của Bộ luật TTHS năm 2015.

[2]. Về nội dung, liên quan đến tội danh, thấy rằng:

Khoảng 22 giờ ngày 23/10/2017 đến 02 giờ ngày 24/10/2017, tại quán B1, địa chỉ số A H, phường N, Quận A và quán Ố, địa chỉ R đường Đ, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, các bị cáo Huỳnh Văn T, Lưu Thị Mỹ L, Vỏ Văn D và Lê Thanh D1 đã có hành vi bắt, giữ trái pháp luật đối với anh Lê Phước G nhằm mục đích ép buộc anh G trả nợ. Sau đó, T và các đồng phạm ép buộc anh Lê Đức L1 và chị Lê Mỹ N1 (là vợ anh L1) phải trả nợ thay cho anh G nhằm chiếm đoạt số tiền 390.000.000 đồng. Đến khoảng 02 giờ 15 phút ngày 24/10/2017, khi chị N1 mang đến đưa cho T số tiền 30.000.000 đồng thì T mới cho anh L1 và chị N1 về.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm kết án các bị cáo về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” và tội “Cưỡng đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2]. Xét nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, thấy rằng:

[2.1]. Trong vụ án này, các bị cáo đã có hành vi bắt giữ anh Lê Phước G, uy hiếp tinh thần nhằm gây áp lực để buộc anh G phải trả cho Huỳnh Văn T số tiền mà anh G còn nợ T. Về ý thức chủ quan, mục đích của các bị cáo là nhằm chiếm đoạt được số tiền 390.000.000 đồng. Việc T bắt anh Lê Đức L1 đưa trước 50.000.000 đồng và viết giấy nhận nợ 340.000.000 đồng, anh L1 mới đưa được 30.000.000 đồng không làm thay đổi mục đích chiếm đoạt ban đầu của các bị cáo là 390.000.000 đồng. Vì vậy, hành vi cưỡng đoạt tài sản của các bị cáo phải xác định theo số tiền mà các bị cáo mong muốn chiếm đoạt là 390.000.000 đồng để xác định khung, khoản đối với hành vi phạm tội của các bị cáo; số tiền chiếm đoạt được (30.000.000 đồng) là cơ sở để xác định trách nhiệm dân sự. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền 390.000.000 đồng và phải bị xét xử về tội Cưỡng đoạt tài sản với tình tiết tăng nặng định khung hình phạt "chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng" được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tòa án cấp sơ thẩm nhận định "mục đích của các bị cáo là nhằm chiếm đoạt số tiền 390.000.000 đồng nhưng thực tế các bị cáo chỉ mới chiếm đoạt được số tiền 30.000.000 đồng", để xét xử các bị cáo theo khoản 1 Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 1999 là áp dụng không đúng quy định của pháp luật.

Vì vậy, có căn cứ để chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh về tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 1999 để xét xử đối với các bị cáo.

[2.2]. Về hình phạt:

Bị cáo Huỳnh Văn T là người giữ vai trò chính, rủ rê, lôi kéo các bị cáo khác tham gia vào việc bắt giữ anh G. T là người đánh anh G và đe dọa ép anh L1 viết giấy nhận nợ, trả nợ thay cho anh G nên T là người chịu trách nhiệm chính trong vụ án này. Các bị cáo Vỏ Văn D, Lưu Thị Mỹ L và Lê Thanh D1 phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức, không hưởng lợi từ số tiền T chiếm đoạt của anh L1; Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ: đầu thú, thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; có hoàn cảnh gia đình khó khăn và các bị hại đều xin giảm nhẹ hình phạt cho tất cả các bị cáo, đã bồi thường cho bị hại.

Thấy rằng, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, số tiền thực tế chiếm đoạt được không lớn; Diện, L, D1 phạm tội với tính chất đồng phạm giúp sức giản đơn; Do đó, mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp nên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Huỳnh Văn T là không được chấp nhận; kháng nghị tăng hình phạt đối với các bị cáo là không cần thiết.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Võ Văn D3, Lê Thanh D1 xin rút đơn kháng cáo giảm nhẹ hình phạt, nên Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của các bị cáo.

[4]. Từ những phân tích, nhận định trên, có căn cứ chấp nhận 01 phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh, sửa bản án sơ thẩm theo hướng xét xử các bị cáo Huỳnh Văn T, Lưu Thị Mỹ L, Vỏ Văn D, Lê Thanh D1 phạm tội Cưỡng đoạt tài sản theo điểm a khoản 3 Điều 135 Bộ luật hình sự năm 1999. Không chấp nhận kháng nghị tăng hình phạt của Viện kiểm sát nhân dân TP HCM cũng như kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo T.

[5]. Quan điểm của Viện kiểm sát cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị sửa bản án sơ thẩm về tăng khung, giữ nguyên mức hình phạt như án sơ thẩm đã áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[6]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo T phải chịu án phí theo quy định.

[7]. Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 2 Điều 348, điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Vỏ Văn D, Lê Thanh D1.
  • Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Huỳnh Văn T và chấp nhận 01 phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 216/2022/HS-ST ngày 19/5/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về tình tiết định khung hình phạt.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Văn T, Lưu Thị Mỹ L, Vỏ Văn D và Lê Thanh D1 phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” và tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
  2. Về hình phạt:

    Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 135; điểm a khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với 04 bị cáo:

    1. Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T 05 (năm) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; 04 (bốn) năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội danh là 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/5/2020.
    2. Xử phạt bị cáo Lưu Thị Mỹ L 02 (hai) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; 01 (một) năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội danh là 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/4/2020 (Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/04/2023).
    3. Xử phạt bị cáo Vỏ Văn D 01 năm 06 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; 03 (ba) năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội danh là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/5/2020 (Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/01/2024)
    4. Xử phạt bị cáo Lê Thanh D1 01 (một) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; 02 (hai) năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội danh là 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/4/2020. (Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/4/2023).
  3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Huỳnh Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí.

  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chung Văn Kết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1111/2024/HS-PT ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 1111/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do có kháng cáo của các bị cáo Huỳnh Văn Tâm, Vỏ Văn Diện, Lê Thanh Duy và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 216/2022/HSST ngày 19 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger