|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1110/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23/9/2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Lâm Thị Nga
2/ Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Yến Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 366/2024/TLST-HNGĐ ngày 08/4/2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1173/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/8/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 1476/2024/QĐĐST-HNGĐ ngày 30/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Vũ Thắng, sinh năm 1980;
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Phương Thi, sinh năm 1982;
Địa chỉ: H93 khu nhà ở Thới An, Tổ 12, Khu phố 1, phường Thới An, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Nhà không số (hẻm 88), Khu phố 3 (nay là Khu phố 19), phường Thới An, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản ghi nhận không tiến hành hoà giải được ông Phạm Vũ Thắng trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị Phương Thi chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 112/2005, ngày 26/12/2005 tại Ủy ban nhân dân phường Thới An, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Những năm đầu hôn nhân vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng càng về sau thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn từ kinh tế gia đình đến chăm lo con cái. Vợ chồng ông đã nhiều lần cố gắng hòa giải để cùng nhau nuôi dạy, chăm sóc con. Tuy nhiên, cuộc sống vợ chồng không những không hòa thuận mà ngày càng căng thẳng hơn. Đỉnh điểm của mâu thuẫn là hai vợ chồng sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Nhận thấy hôn nhân không thể kéo dài, đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mỗi người đều có cuộc sống riêng nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà Nguyễn Thị Phương Thi.
Về con chung: có 02 (hai) con chung Phạm Nguyễn Khánh Toàn, sinh ngày 01/12/2006 và Phạm Nguyễn Khánh Linh, sinh ngày 08/8/2008. Sau khi ly hôn ông đồng ý giao 02 (hai) con chung cho bà Thi trực tiếp nuôi dưỡng, ông Thắng tự nguyện cấp dưỡng nuôi con với số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng/tháng/một con đến khi con chung lần lượt đủ 18 (mười tám) tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án nhân dân Quận 12 đã nhiều lần triệu tập bà Thi làm việc để lấy lời khai và tham gia các phiên hòa giải nhưng bà thường xuyên liên tục vắng mặt không có lý do nên việc hòa giải đã không thể tiến hành và vụ án được đưa ra xét xử công khai.
Tại phiên tòa hôm nay ông Thắng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà Thi đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ theo quy định Điều 227 và Điều 228 của BLTTDS năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, bị đơn vắng mặt trong quá trình hòa giải. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ông Phạm Vũ Thắng yêu cầu giải quyết ly hôn với bà Nguyễn Thị Phương Thi. Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về hôn nhân và gia đình.
Căn cứ vào kết quả xác minh của Công an phường Thới An, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh thì “ bà Nguyễn Thị Phương Thi, sinh năm 1982 hiện cư trú tại địa chỉ: nhà không số (hẻm 88), Khu phố 19, phường Thới An, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh”. Tòa án đã thực hiện thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ.
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa ngày 30/8/2024 bà Thi vắng mặt mà không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa theo quy định Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, ông Phạm Vũ Thắng có đơn xét xử vắng mặt, bà Nguyễn Thị Phương Thi vắng mặt lần hai không rõ lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đượng sự.
[3] Về các yêu cầu của đương sự:
- Về quan hệ hôn nhân: ông Thắng và bà Thi chung sống với nhau có đăng ký kết hôn, cuộc sống giữa hai vợ chồng không hạnh phúc và hiện nay đã sống ly thân. Ông Thắng yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà Thi.
Ngày 04/5/2024 Tòa án đã tiến hành xác minh về tình trạng hôn nhân giữa ông Thắng và bà Thi tại Ủy ban nhân dân phường Thới An, Quận 12. Kết quả xác minh “Mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa ông Phạm Vũ Thắng và bà Nguyễn Thị Phương Thi thì Ủy ban phường Thới An, Quận 12 không nắm rõ”.
Căn cứ vào lời khai của đương sự, căn cứ vào các giấy tờ, tài liệu do các đương sự cung cấp và kết quả xác minh Hội đồng xét xử xét thấy:
Ông Phạm Vũ Thắng và bà Nguyễn Thị Phương Thi chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 112/2005, ngày 26/12/2005 do Ủy ban nhân dân phường Thới An, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, cấp, nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp và được pháp luật thừa nhận.
Trong quá trình giải quyết vụ án ông Thắng có lời khai về mối quan hệ vợ chồng với bà Thi không hạnh phúc, thường xuyên cải vã và đã sống ly thân.
Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ chung sống với nhau, thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, tạo dựng hạnh phúc gia đình, nhưng cuộc sống vợ chồng giữa ông Thắng và bà Thi không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử quyết định căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn ông Phạm Vũ Thắng.
- Về con chung: có 02 (hai) con chung Phạm Nguyễn Khánh Toàn, sinh ngày 01/12/2006 và Phạm Nguyễn Khánh Linh, sinh ngày 08/8/2008. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án ông Thắng có trình bày hiện 02 con chung đang sống cùng bà Thi nên ông yêu cầu giao 02 (hai) con chung cho bà Thi trực tiếp nuôi dưỡng, ông Thắng tự nguyện cấp dưỡng nuôi con với số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng/tháng/con đến khi con chung lần lượt đủ 18 tuổi. Xét thấy các con chung hiện đang chung sống cùng mẹ và đang sắp bước sang thời điểm mười tám tuổi nên việc ổn định chỗ ở và trường học để tạo điều kiện học hành tốt nhất cho các con là điều cần thiết, do đó cần thiết giao hai con chung cho bà Thi nuôi dưỡng và ghi nhận việc ông Thắng tự nguyện cấp dưỡng nuôi con với số tiền 2.000.000 đồng/tháng/một con.
Khi có lý do chính đáng, việc cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Thắng được quyền thăm con, không ai được cản trở.
- Tòa cấp sơ thẩm không giải quyết về tài sản chung, nợ chung do trong quá trình giải quyết đương sự không có yêu cầu.
[4] Xét án phí ly hôn: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp hôn nhân và gia đình không có giá ngạch là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, đồng thời phải chịu án phí cấp dưỡng là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng. Nguyên đơn đã nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0022155 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 12. Sau khi cấn trừ, nguyên đơn phải nộp thêm số tiền án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271, 273, 278 và 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 19, 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 6, 7, 26, 30, 31, 32 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Vũ Thắng được ly hôn với bà Nguyễn Thị Phương Thi.
- Về con chung: có 02 (hai) con chung Phạm Nguyễn Khánh Toàn, sinh ngày 01/12/2006 và Phạm Nguyễn Khánh Linh, sinh ngày 08/8/2008. Giao 02 (hai) con chung cho bà Thi trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận việc ông Thắng tự nguyện cấp dưỡng nuôi con với số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng/tháng/con đến khi con chung lần lượt đủ 18 tuổi. Thực hiện cấp dưỡng vào ngày 05 hàng tháng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết do các đương sự không có yêu cầu.
- Về án phí: Buộc ông Phạm Vũ Thắng phải chịu án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp hôn nhân và gia đình không có giá ngạch là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng và án phí cấp dưỡng là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng. Ông Thắng đã nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí khi khởi kiện, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0022155, ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi cấn trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp và án phí phải chịu. Ông Thắng phải nộp thêm số tiền án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.
- Quyền kháng cáo:
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật thì Giấy chứng nhận kết hôn số 112/2005, ngày 26/12/2005 tại Ủy ban nhân dân phường Thới An, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị pháp lý.
Việc giao nhận tiền do các đương sự tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày bà Thi có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Thắng không thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con hàng tháng thì ông Thắng còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền này. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng cho con
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hồ Thị Nga |
Bản án số 1110/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 1110/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ÁN
