TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 111/2024/DS-ST
Ngày: 31-7-2024
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Minh Đạo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lục Kim Thanh.
- Bà Trần Thị Ngọc Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 258/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 90/2024/QÐST-DS ngày 19/7/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (V); địa chỉ trụ sở: số A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
Bà Ngô Thị L, địa chỉ liên hệ: Tầng F, Tòa nhà P, số B U, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh - là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, (Văn bản uỷ quyền số 105784.24 ngày 29/5/2024); vắng mặt.
Ông Lưu Hoàng Phúc T, địa chỉ liên hệ: Tầng F, Tòa nhà P, số B U, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh - là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, (Văn bản uỷ quyền số 105784.24 ngày 29/5/2024); có mặt.
Bà Phan Thị Kim T1; địa chỉ liên hệ: Tầng F, Tòa nhà P, số B U, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh - là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, (Văn bản uỷ quyền số 105784.24 ngày 29/5/2024); vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Hà Văn C, sinh năm 1995; địa chỉ thường trú: Ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang; địa chỉ tạm trú: Nhà trọ B (Hồ Thị C1), Tổ A, ấp R, xã A, thành phố B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/10/2021, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng TMCP Q (gọi tắt là V) - Chi nhánh G, Phòng giao dịch Nguyễn Thị T2 ký với ông Hà Văn C hợp đồng tín dụng số 517518.HDTD802.18 ngày 23/10/2018 với nội dung:
- Số tiền giải ngân: 297.000.000 đồng (hai trăm chín mươi bảy triệu đồng);
- Mục đích giải ngân: tiêu dùng;
- Thời hạn vay: 60 tháng từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân (01/11/2018) đến ngày 01/11/2023;
- Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 15,5% năm. Lãi suất này cố định trong suốt thời gian vay vốn, trừ trường hợp thay đổi theo quy định của Hợp đồng.
- Hoàn trả khoản vay gốc: Số tiền phải trả hàng tháng (bao gồm gốc và lãi): 7.143.798 đồng. Ngày đến hạn trả tiền hàng tháng: 14;
- Hoàn trả lãi: Hàng tháng vào ngày 14, kỳ trả nợ đầu tiên 14/12/2018;
- Trả phí: theo quy định của V từng thời kỳ;
- Lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn.
V đã giải ngân cho ông Hà Văn C theo đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 517518.KUNN802.18 ngày 01/11/2018 với số tiền 297.000.000 đồng.
Ngoài ra, ngày 17/10/2018 ông Hà Văn C có đơn đăng ký phát hành thẻ tín dụng quốc tế. Theo đó V đã phát hành thẻ tín dụng cho ông C với hạn mức tín dụng là 51.000.000 đồng, loại thẻ V, mục đích vay: tiêu dung; lãi suất vay: theo quy định của V qua từng thời kỳ.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Hà Văn C đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh. Tạm tính đến ngày 28/8/2021, ông Hà Văn C đã thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q số tiền là 78.681.778 đồng (trong đó: gốc là 37.141.050 đồng, lãi là 41.541.728 đồng) và còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc của Hợp đồng tín dụng số 517518.HDTD802.18 là 259.859.950 đồng, nợ gốc của thẻ tín dụng là 48.915.809 đồng.
Tạm tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm (ngày 31/7/2024), ông Hà Văn C còn nợ Ngân hàng TMCP Q số tiền: 631.441.574 đồng, trong đó nợ gốc là 308.775.759 đồng, nợ lãi trong hạn là 114.221.814, nợ lãi quá hạn là 170.776.918 đồng, phí thẻ VIB là 37.667.918 đồng. Nay, Ngân hàng TMCP Q khởi kiện ông Hà Văn C yêu cầu:
- Buộc ông Hà Văn C trả số tiền tạm tính đến ngày 31/7/2024 là 631.441.574 đồng, trong đó nợ gốc là 308.775.759 đồng, nợ lãi trong hạn là 114.221.814, nợ lãi quá hạn là 170.776.918 đồng, phí thẻ VIB là 37.667.918 đồng.
- Yêu cầu tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn, phí phát sinh kể từ ngày 01/8/2024 cho đến khi ông Hà Văn C thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký.
Về phía bị đơn: Ông Hà Văn C đã được Tòa án triệu tập bằng hình thức thông báo trên phương tiện truyền thông theo quy định tại Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự, để ông C đến Tòa án tham gia phiên họp, phiên hòa giải và phiên tòa xét xử vụ án. Tuy nhiên ông C vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì. Bị đơn vắng mặt không rõ lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Vụ án thụ lý đúng theo quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Hà Văn C. Bị đơn ông Hà Văn C có địa chỉ cư trú cuối cùng tại nhà trọ B (Hồ Thị C1), Tổ A, ấp R, xã A, thành phố B, tỉnh Bình Dương (theo biên bản xác minh ngày 15/9/2023 tại Công an xã A) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Ông Hà Văn C đã được Tòa án thông báo trên phương tiện truyền thông để đến Tòa án tham gia phiên họp, phiên hòa giải và phiên tòa xét xử vụ án. Tuy nhiên, ông C vắng mặt không có lý do. Như vậy, ông C đã tự từ bỏ quyền, không thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Hà Văn C.
[2] Về nội dung:
[2.1] Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã nộp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện. Bị đơn được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng tuy nhiên không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như tài liệu, chứng cứ nguyên đơn giao nộp. Vì vậy, bị đơn được coi là từ bỏ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình.
[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn và bị đơn ký kết hợp đồng tín dụng số 517518.HDTD802.18 ngày 23/10/2018 với nội dung:
- Số tiền giải ngân: 297.000.000 đồng (hai trăm chín mươi bảy triệu đồng);
- Mục đích giải ngân: tiêu dùng;
- Thời hạn vay: 60 tháng từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân (01/11/2018) đến ngày 01/11/2023;
- Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 15,5% năm. Lãi suất này cố định trong suốt thời gian vay vốn, trừ trường hợp thay đổi theo quy định của Hợp đồng.
- Hoàn trả khoản vay gốc: Số tiền phải trả hàng tháng (bao gồm gốc và lãi): 7.143.798 đồng. Ngày đến hạn trả tiền hàng tháng: 14;
- Hoàn trả lãi: Hàng tháng vào ngày 14, kỳ trả nợ đầu tiên 14/12/2018;
- Trả phí: theo quy định của V từng thời kỳ;
- Lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn.
V đã giải ngân cho ông Hà Văn C theo đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 517518.KUNN802.18 ngày 01/11/2018 với số tiền 297.000.000 đồng.
Ngoài ra, ngày 17/10/2018 ông Hà Văn C có đơn đăng ký phát hành thẻ tín dụng quốc tế. Theo đó V đã phát hành thẻ tín dụng cho ông C với hạn mức tín dụng là 45.000.000 đồng sau đó điều chỉnh lên 51.000.000 đồng, loại thẻ V, mục đích vay: tiêu dùng; lãi suất vay: theo quy định của V qua từng thời kỳ.
Theo chứng cứ nguyên đơn cung cấp thì ông C đã trả nợ được đến ngày 28/8/2021 với số tiền là 78.681.778 đồng (trong đó: gốc là 37.141.050 đồng, lãi là 41.541.728 đồng). Do ông C vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn yêu cầu ông C phải trả khoản tiền nợ tạm tính đến ngày 31/7/2024 là 631.441.574 đồng, trong đó nợ gốc là 308.775.759 đồng, nợ lãi trong hạn là 114.221.814, nợ lãi quá hạn là 170.776.083 đồng, phí thẻ VIB là 37.667.918 đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn, phí phát sinh kể từ ngày 01/8/2024 cho đến khi ông C thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại hợp đồng tín dụng, đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ đã ký. Do khoản vay không có giao dịch bảo đảm nên nguyên đơn không yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm.
Bị đơn ông C không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như tài liệu, chứng cứ nguyên đơn giao nộp. Vì vậy, ông C được coi là từ bỏ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình. Do ông C không thực nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi theo thỏa thuận nên vi phạm thỏa thuận của hợp đồng tín dụng đã ký và theo quy định tại Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
[3] Ý kiến của vị Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là phù hợp.
[4] Về lệ phí đăng phát thông báo: Nguyên đơn phải chịu lệ phí thông báo theo quy định tại khoản 2 Điều 180 của Bộ luật Tố tụng dân sự với số tiền là 2.522.726 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng nguyên đơn đã nộp (nguyên đơn đã thực hiện xong).
[5] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 5, khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 92; Điều 147; Điều 157; Điều 180; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 100, Điều 103 và Điều 107 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024.
Căn cứ vào Điều 463, Điều 465, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q đối với bị đơn ông Hà Văn C về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Buộc ông Hà Văn C có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền (nợ gốc, nợ lãi, phí) tạm tính đến ngày 31/7/2024 là 631.441.574₫ (sáu trăm ba mươi mốt triệu bốn trăm bốn mươi mốt nghìn năm trăm bảy mươi bốn đồng), trong đó bao gồm:
- Nợ gốc là 308.775.759đ (ba trăm lẻ tám triệu bảy trăm bảy mươi lăm nghìn bảy trăm năm mươi chín đồng), (trong đó nợ gốc của Hợp đồng tín dụng số 517518.HDTD802.18 ngày 23/10/2018 là 259.859.950 đồng; nợ gốc của thẻ tín dụng số 513892xxxxxx6655 là 48.915.809 đồng).
- Nợ lãi trong hạn là 114.221.814đ (một trăm mười bốn triệu hai trăm hai mươi mốt nghìn tám trăm mười bốn đồng), (của Hợp đồng tín dụng số 517518.HDTD802.18 ngày 23/10/2018).
- Nợ lãi quá hạn là 168.414.233đ (một trăm sáu mươi tám triệu bốn trăm mười bốn nghìn hai trăm ba mươi ba đồng), (trong đó nợ lãi quá hạn của Hợp đồng tín dụng số 517518.HDTD802.18 ngày 23/10/2018 là 152.531.848 đồng; nợ lãi quá hạn của thẻ tín dụng số 513892xxxxxx6655 là 18.244.235 đồng).
- Phí thẻ V là 37.667.918đ (ba mươi bảy triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn chín trăm mười tám đồng).
Kể từ ngày 01/8/2024, ông Hà Văn C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, phí phát sinh theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký kết với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
2. Về lệ phí đăng phát thông báo: Nguyên đơn đã nộp xong lệ phí thông báo.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn không phải chịu án phí. Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền 10.953.000 đồng (mười triệu chín trăm năm mươi ba nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005962 ngày 29/11/2021.
Buộc ông Hà Văn C phải chịu 29.257.700 đồng (hai mươi chín triệu hai trăm năm mươi bảy nghìn bảy trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
4. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Minh Đạo |
Bản án số 111/2024/DS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 111/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp tín dụng
