Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN PHONG

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 111/2024/HS-ST

Ngày 29/7/2024


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH


-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Vân, ông Chu Văn Bình.

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hạ Gia Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại điểm cầu Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh B tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 110/2024/TLST-HS ngày 03/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2024/QĐXXST-HS ngày 11/7/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị N, sinh năm 2003; nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1980 và con bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1979; chồng, con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/4/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Ninh Thị Thùy L, sinh năm 2005; trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang (xin xét xử vắng mặt).

- Chị Đỗ Thị Ngọc B, sinh ngày 25/01/2006; trú tại: Thôn L, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang (xin xét xử vắng mặt).

Người tham gia tố tụng khác:

  1. Cán bộ Tin học Tòa án nhân huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
  2. Cán bộ Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

1

(Đều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị N có quen biết với chị Đỗ Thị Ngọc B và chị Ninh Thị Thùy L qua mạng xã hội. Quá trình nói chuyện, biết B và L có nhận đi khách bán dâm nên N nảy sinh ý định môi giới mại dâm để kiếm tiền. N đặt vấn đề với B và L nếu muốn kiếm tiền thì N sẽ tìm khách mua dâm để B và L bán dâm, N sẽ cắt một phần là tiền công môi giới từ việc B và L bán dâm, B và L đều đồng ý. N sử dụng mạng xã hội Facebook của N là “Kiều Diễm N” đăng nhập vào trang wed Sugar babay để tìm khách muốn mua dâm. Ngày 31/3/2024, Nguyễn Văn T liên lạc với N đặt vấn đề mua dâm 02 gái bán dâm vào tối ngày 01/04/2024 tại nhà nghỉ N1 với giá 7.000.000 đồng, N đồng ý. N sử dụng điện thoại di động Iphone 11 promax đăng nhập vào mạng ứng dụng zalo nhắn tin với L và B thỏa thuận giá bán dâm của L được 4.000.000 đồng và L phải cắt lại tiền bán dâm cho N là 1.000.000 đồng; giá bán dâm của B là 3.000.000 đồng và B phải cắt lại tiền bán dâm cho N là 500.000 đồng. Tiền bán dâm L và B sẽ được thanh toán trực tiếp từ người mua dâm và phải chuyển khoản luôn cho N, L và B đồng ý.

Đến tối ngày 01/4/2024, L và B thuê xe taxi đến nhà nghỉ N1 để bán dâm. Khi đến nhà nghỉ, do không có tiền nên L nhờ N trả 500.000 đồng tiền taxi. Tại nhà nghỉ N1, Nguyễn Văn TTrương Mạnh T1 gặp L và B. T đưa cho L 7.000.000 đồng tiền bán dâm. Sau đó, cả 04 người đi vào thuê 02 phòng 307 và 309 của nhà nghỉ. L nhờ anh Nguyễn Duy Tuấn A là chủ nhà nghỉ chuyển số tiền 2.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của L và L đưa cho anh Tuấn A 2.000.000 đồng. Sau đó L chuyển khoản số tiền 2.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của N, trong đó là 1.500.000 đồng tiền công môi giới của N cho L và B bán dâm và 500.000 đồng tiền taxi L vay N trước đó. Sau đó, L và T lên phòng 309 còn B và T1 lên phòng 307 của nhà nghỉ.

Nghi ngờ 02 đôi nam nữ đến thuê phòng nhà nghỉ của mình có hành vi mua bán dâm, anh Tuấn A đã thông báo đến Công an huyện Y nên Công an huyện Y đã đến nhà nghỉ N1 kiểm tra, phát hiện sự việc.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 bao cao su màu vàng nhạt (đã qua sử dụng) tại phòng 307.
  • - 01 bao cao su màu vàng nhạt (đã qua sử dụng) tại phòng 309.
  • - 01 điện thoại Iphone 11 ốp vỏ màu đỏ, gắn sim số 0342703126 và số tiền 5.000.000 đồng do chị L giao nộp.
  • - 01 điện thoại Iphone X gắn sim số 0976.491.xxx do chị B giao nộp.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, gắn sim số 0972665907 và số tiền 1.500.000 đồng do bị cáo N giao nộp.

2

Tại bản Cáo trạng số 111/CT-VKS-YP ngày 02/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị N về tội “Môi giới mại dâm” theo điểm đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội; sau khi đưa ra các chứng cứ, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • -Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Môi giới mại dâm”.
  • -Về hình phạt:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Nguyễn Thị N từ 36 tháng tù đến 40 tháng tù, thời hạn tù tính từ tạm giam 02/4/2024.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 02 bao cao su màu vàng nhạt đã qua sử dụng, 01 sim điện thoại số: 0972.665.xxx.
  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: Số tiền 6.500.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax.
  • - Truy thu của chị Ninh Thị Thùy L số tiền 500.000 đồng.
  • - Trả lại cho chị Ninh Thị Thùy L 01 điện thoại Iphone 11 ốp vỏ màu đỏ, gắn sim số 0342703126 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án; trả lại cho Đỗ Thị Ngọc B 01 điện thoại Iphone X gắn sim số 0976.491.xxx.

Bị cáo N không có ý kiến bào chữa, tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện theo đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

3

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn nhận tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Tối ngày 01/4/2024, bị cáo Nguyễn Thị N đã có hành vi làm trung gian, dẫn dắt môi giới cho chị Ninh Thị Thùy L bán dâm cho anh Nguyễn Văn T, chị Đỗ Thị Ngọc B bán dâm cho anh Trương Mạnh T1 nhằm thu lời bất chính. Khi L và T đang mua bán dâm tại phòng 309, B và T1 đang mua bán dâm tại phòng 307 nhà nghỉ N2 ở khu đô thị M, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh thì bị Công an huyện Y bắt quả tang.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Như vậy, hành vi của bị cáo N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an, xâm phạm đến thuần phong mỹ tục của dân tộc, đời sống văn hóa, là môi trường lây lan nhiều căn bệnh xã hội, vì vậy cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân.

Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung trong nhân dân.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

  • + Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax của bị cáo N là công cụ để bị cáo N và người bán dâm thỏa thuận việc mua bán dâm nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
  • + Đối với số tiền 1.500.000 đồng thu lời bất chính của bị cáo N từ việc môi giới mại dâm dâm, đây là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

4

  • + Đối với số tiền 5.500.000 đồng là tiền bán dâm của chị L và chị B có được nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước. Chị B, chị L mỗi người đã giao nộp số tiền 2.500.000 đồng, cần tiếp tục truy thu của chị L số tiền 500.000 đồng.
  • + 02 bao cao su màu vàng nhạt đã qua sử dụng, sim điện thoại số 0972.665.xxx là những vật liên quan đến vụ án, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
  • + Đối với điện thoại Iphone 11 ốp vỏ màu đỏ, gắn sim số 0342703126 của chị Ninh Thị Thùy L; điện thoại Iphone X gắn sim số 0976.491.xxx của chị Đỗ Thị Ngọc B là vật không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho chị L, chị B. Cần tạm giữ điện thoại di động Iphone 11 của chị L để đảm bảo thi hành án.

[3] Những vấn đề khác:

Đối với Trương Mạnh T1Nguyễn Văn T là hai người mua dâm. Sau khi lấy lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, lợi dụng sơ hở nên T1 và T đã trốn thoát. Cơ quan điều tra đã xác minh tại xã C, huyện H, tỉnh Bắc Giang nhưng không có ai có lý lịch như T1 và T đã khai. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý là phù hợp.

Đối với chị Đỗ Thị Ngọc B và chị Ninh Thị Thùy L là hai người bán dâm, Công an huyện Y đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi bán dâm dưới hình thức phạt tiền là phù hợp.

[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Môi giới mại dâm”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Nguyễn Thị N 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/4/2024.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 02 bao cao su màu vàng nhạt đã qua sử dụng, 01 sim điện thoại số: 0972.665.xxx.
  • - Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: Số tiền 6.500.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax.
  • - Truy thu của chị Ninh Thị Thùy L số tiền 500.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.
  • - Trả lại cho chị Ninh Thị Thùy L 01 điện thoại Iphone 11 ốp vỏ màu đỏ, gắn sim số 0342703126 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

5

  • -Trả lại cho Đỗ Thị Ngọc B 01 điện thoại Iphone X gắn sim số 0976.491.xxx.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong

Số tiền 6.500.000 đồng được nộp bảo quản tại Kho bạc Nhà nước huyện Y ngày 09/5/2024.

  1. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Báo cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • -VKSND tỉnh Bắc Ninh
  • -VKSND huyện Yên Phong;
  • -Công an huyện Yên Phong;
  • -Chi cục THADS huyện Yên Phong;
  • -Những người TGTT;
  • -Lưu HS, VP.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Thị Vân

Trần Đại

Nguyễn Ngọc Tuấn

6

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về hình sự (môi giới mại dâm)

  • Số bản án: 111/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Môi giới mại dâm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Nhung - Môi giới mại dâm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger