Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29-07-2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN

NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH –TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền
  2. Ông Lương Văn Cẩu

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Cẩm- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Anh – Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 01 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 173/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 172/2023/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024 và giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn C, sinh năm 1981 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

    Nơi cư trú: tổ 45, ấp Cần Thạnh, xã Cần Đăng, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang

  2. Bị đơn: Bà Đỗ Thị D, sinh năm: 1989 (vắng mặt)

    Nơi cư trú: tổ 45, ấp Cần Thạnh, xã Cần Đăng, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 26/10/2023 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn ông Trần Văn C trình bày:

- Về hôn nhân: Ông và bà D tự tìm hiểu, có tổ chức đám cưới vào năm 2003, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Cần Đăng, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang số 135/KH quyển số I ngày 05/6/2008. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống; vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau, không hạnh phúc. Khoảng tháng 01/2023 giữa ông bà ly thân nhau cho đến nay. Trong thời gian ly thân cả hai không ai có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay ông không còn tình cảm với bà D, nên yêu cầu ly hôn.

- Về con chung: Có 03 con chung tên Trần Hoàng Đ sinh ngày 05/01/2004; Trần Khánh D sinh ngày 07/8/2005 và Trần Thanh B sinh ngày 03/12/2007. Cháu Đ và cháu đã trưởng thành và có khả năng lao động. Riêng cháu B đang sống với ông, khi ly hôn ông yêu cầu tiếp tục nuôi con chung; không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn bà Đỗ Thị D vắng mặt trong quá trình tố tụng

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn ông Trần Văn C có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 05/7/2024 nội dung đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về hôn nhân; Có thay đổi về con chung cháu Trần Thanh Bình sinh ngày 03/12/2007, ông xác định lại cháu Bình hiện đang sống với bà D, ở nhà ông bà ngoại (cha mẹ bà D). Do lúc đánh đơn khởi kiện, tự khai ông không kiểm tra có sai sót. Khi ly hôn ông đồng ý giao cháu Bình cho bà D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông không cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Bị đơn bà Đỗ Thị D vắng mặt tại phiên tòa không tham gia tố tụng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu:

  • + Về việc chấp hành pháp luật: trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành đúng theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
  • + Về nội dung: Việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu về con chung không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện. Đề nghị HĐXX xem xét căn cứ Điều 5; Điều 244 BLTTDS của BLTTDS chấp nhận yêu yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

1.1 Về quan hệ tranh chấp: Ông Trần văn C có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành giải quyết về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự

1.2 Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ biên bản xác minh tại Công an xã Cần Đăng, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang và xác nhận thông tin về cư trú thể hiện: “Bà D vẫn còn đăng ký HKTT tại tổ 45, ấp Cần Thạnh, xã Cần Đăng, huyện Châu Thành, An Giang. Hiện bà không có mặt tại địa phương”; Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

1.3 Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 179 BLTTDS 2015. Bà D không có mặt tại phiên tòa khi được Tòa án triệu tập hợp lệ. Phía nguyên đơn ông C có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông C, bà D.

[2] Về nội dung tranh chấp:

2.1 Về hôn nhân: Giữa ông C, bà D có đăng ký kết hôn tại UBND xã Cần Đăng, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang số 135/KH quyển số I ngày 05/6/2008 phù hợp với quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 3, Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, do đó quan hệ hôn nhân giữa ông bà là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để xác định nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng giữa ông bà . Mục đích tạo điều kiện cho ông bà đoàn tụ; nhưng ông C vẫn giữ yêu cầu ly hôn; bà D không đến Toà án để tham gia tố tụng, không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án. Bà D không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70,72 BLTTDS.

Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau. Giữa ông bà đã ly thân một thời gian dài, trong khoảng thời gian ly thân cả hai không hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Như vậy cả ông bà đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt theo quy định tại Điều 56 Luật HNGĐ năm 2014. Do đó, yêu cầu của ông C có căn cứ được HĐXX xem xét chấp nhận.

2.2 Về con chung: Giữa ông bà có 03 con tên Trần Hoàng Đ sinh ngày 05/01/2004; Trần Khánh D sinh ngày 07/8/2005 và Trần Thanh B sinh ngày 03/12/2007. Cháu Đ và cháu D đã trưởng thành có khả năng lao động; riêng cháu Bình đang sống chung với bà D nhà ông bà ngoại. Khi ly hôn ông C đồng ý giao cháu Bình cho bà D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng ông không cấp dưỡng nuôi con chung. Bà D không có văn bản trình bày ý kiến về cấp dưỡng. HĐXX không xem xét

Đồng thời, tại biên bản lấy lời khai cháu Bình ngày 05/7/2024 tại Tòa án ý kiến của cháu Bình có nguyện vọng tiếp tục sống chung với mẹ là bà D. Do đó, yêu cầu của ông C phù hợp với quy định tại các Điều 53, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014 được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Bà D cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông C trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung sau khi ly hôn

2.3 Về tài sản chung và nợ chung: HĐXX không xem xét.

[3] Về án phí sơ thẩm:

Ông Trần Văn C là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

[4] Quyền kháng cáo:

Ông C, bà D có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Điều 5, Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 217, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 244; Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn C; Ông C được ly hôn với bà Đỗ Thị D.
  2. Về con chung: Bà Đỗ Thị D được tiếp tục nuôi chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Trần Thanh Bình sinh ngày 03/12/2007. Bà D phải tạo điều kiện thuận lợi cho ông C trong việc được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở. Ông C không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà D không yêu cầu.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: HĐXX không xem xét.
  4. Về án phí HNGĐ sơ thẩm: Ông Trần Văn C phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004451 ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
  5. Quyền kháng cáo: Ông Trần Văn C và bà Đỗ Thị D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Châu Thành, tỉnh An Giang;
  • - Phòng kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Ngô Thùy Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 111/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông C ly hôn với bà Dính
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger