Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG HƯNG

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:111/2023/HSST

Ngày 28/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

* Tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng:

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Hà Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Nguyễn Thị Vĩnhvà ông Đoàn Ngọc Sử

Thư ký ghi biên bản phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Huân - Kiểm sát viên.

Thành phần những người tham gia tố tụng tại điểm cầu trung tâm:

Người chứng kiến:

  1. Ông Phạm Văn Q, sinh năm 1965
  2. Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện Đông Hưngtỉnh Thái Bình.
  3. Anh Nguyễn Xuân N, sinh năm 1980
  4. Địa chỉ: Thôn H, xã M, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

(Đều vắng mặt)

* Tại điểm cầu thành phần - Nhà tạm giữ Công an huyện Đông Hưng gồm:

Những người tiến hành tố tụng:

Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng tham gia hỗ trợ: Ông Nguyễn Trọng Thể.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia hỗ trợ: Ông Nguyễn Viết Dũng

Người tham gia tố tụng: Bị cáo Nguyễn Hoài B

Người tham gia tố tụng khác:

Cán bộNhà tạm giữ Công an huyện Đông Hưng: Ông Lê Duy Khánh.

Ngày 28tháng 11 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm - Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng và điểm cầu thành phần – Nhà tạm giữ Công an huyện Đông Hưng, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng mở phiên tòa sơ thẩm, công khai xét xử trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 108/2023/TLST - HS ngày 01/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2023/QĐXXST - HS ngày 15/11/2023 đối với bị cáo:

2

Nguyễn Hoài B;

Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không.Sinh ngày 26/5/1993. Tại: Thôn L, xã T, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Nguyễn Hữu Bằng, con bà: Nguyễn Thị Nguyệt H.Vợ, con: Chưa có

Tiền sự: Không;

Tiền án: 02.

Bản án số 99/2017/HS-ST ngày 28/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình, xử phạt 01 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, không phạt bổ sung, án phí phải nộp 200.000 đồng. Ngày 27/7/2018 chấp hành xong hình phạt tù, ngày 22/8/2018 thi hành xong tiền án phí. Chưa được xóa án tích.

Bản án hình sự số 67/2020/HS-ST ngày 31/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình, xử phạt 02 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (hành vi phạm tội thực hiện ngày 20/3/2020), không phạt bổ sung, án phí phải nộp 200.000 đồng. Ngày 04/12/2020 thi hành xong tiền án phí, ngày 20/12/2021 chấp hành xong hình phạt tù về địa phương. Chưa được xóa án tích.

Nhân thân: Bị cáo học hết lớp 12/12. Tháng 9/2011 là sinh viên Đại học FPT Hà Nội, năm 2012 thôi học về địa phương lao động tự do.

Tại Quyết định số 242/QĐ-XPHC ngày 10/9/2013 của Công an huyện Hưng Hà xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng, về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã chấp hành xong cùng ngày.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 09/6/2023 đến ngày 15/6/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đông Hưng.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa tại điểm cầu thành phần).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến vụ án tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hoài B là người nghiện ma túy và có 02 tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích. Qua bạn nghiện ma tuý, B biết được ở khu vực gần cầu Đ, xã L, huyện Đông Hưng có một người đàn ông khoảng 35 tuổi bán ma tuý nên khoảng 08 giờ 30 phút ngày 09/6/2023, B đi nhờ xe mô tô của một người không quen biết từ nhà ra thị trấn H, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, sau đó tiếp tục đi nhờ xe mô tô đến khu vực ngã tư xã M, huyện Đông Hưng, B xuống xe đi bộ về phía cầu Đ tìm người đàn ông trên để mua ma tuý. Tại đây B gặp người đàn ông có đặc điểm trên đeo kính và khẩu trang đang đứng cạnh xe máy ở trên cầu. B đi lại gần

3

và hỏi mua 200.000 đồng ma tuý Heroine, người này đồng ý lấy tiền và bán cho B 01 gói ma túy Heroine có đặc điểm gói bằng giấy kim loại màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục. Sau khi mua được ma túy, B cầm gói ma tuý trong lòng bàn tay trái đi bộ theo hướng đường về khu vực nghĩa trang thôn H, xã M, huyện Đông Hưng để sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Đông Hưng phối hợp với Công an xã M huyện Đông Hưng phát hiện bắt quả tang, B đã tự nguyện giao nộp cho tổ công tác gói ma túy vừa mua đang cầm trong lòng bàn tay trái, B khai gói ma túy trên là Heroin, mua để sử dụng cho bản thân.Tổ công tác Công an huyện Đông Hưng đã mời anh Nguyễn Xuân N và ông Phạm Văn Q chứng kiến sau đóđưa B về UBND xã M lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong quản lý vật chứng.

Tại bản Kết luận giám định số 878/KL-KTHS ngày 13/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật gửi giám định thu của Nguyễn Hoài B là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng là 0,1411 gam (Không phẩy một nghìn bốn trăm mười một gam).

Căn cứ vào hành vi phạmtội của bị cáo; Cáo trạng số 104/CT-VKSĐH ngày 25/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tốbị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm 0 khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ cáo trạng đã truy tố, đồng thời áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáophạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; phạt bị cáo mức hình phạt từ 05 (năm) 06 (sáu) tháng đến05 (năm) 09 (chín) tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo đồng thời đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí.

Tại phiên tòa: Bị cáo B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo xác định Cáo trạng truy tố bị cáo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng pháp luậtvì vậy không trình bày lời bào chữa, cũng không trình bày ý kiến tranh luận về tội danh, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, điều luật áp dụng, mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị .

Khi nói lời sau cùng: Bị cáo biết việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo được sớm trở về với gia đình.

PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[ 1] Về hành vi quyết định tố tụng:

4

Các tài liệu chứng cứ do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra vụ án đã tuân thủ các quy định của pháp luật. Đó là các tài liệu hợp pháp chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Căn cứ vào các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Hưng, Điều tra viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[ 2] Về căn cứ xác định có tội, căn cứ xác định vô tội:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với Cáo trạng số 104/CT-VKSĐH ngày 25/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố.

Lời khai nhận tội của bị cáo còn phù hợp Biên bản bắt người phạm tội quả tang của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Hưng lập hồi 09 giờ 30phút ngày 09/6/2023 tại UBND xã M; Biên bản quản lý niêm phong vật chứng; Lời khai của người chứng kiến; Kết luận giám định số 878/KL-KTHS ngày 13/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do vậy có đủ cơ sở kết luận:Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 09/6/2023, tại đường trục thôn H, xã M, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Hoài B là người đã có hai tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, trong đó bản án số 67 ngày 31/7/2020 đã xác định bị cáo tái phạm chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý - tàng trữ trái phép trên người 0,1411 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân, bị Công an huyện Đông Hưng và công an xã M phát hiện bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy "với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

5

o) Tái phạm nguy hiểm;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”

Tình tiết giảm nhẹ,tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[3] Về tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an ninh an toàn xã hội. Bản thân bị cáo biết tác hại của ma túy, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là bất hợp pháp nhưng vẫn tàng trữ ma túy để sử dụng. Bị cáo có nhân thân không tốt, đã bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng ma túy và 02 lần bị Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng sau khi chấp hành xong bản án bị cáo không lấy đó là bài học tu dưỡng bản thân vẫn tiếp tục tàng trữ trái phép chất ma túy để thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Vì vậy, việc đưa vụ án ra xét xử là cần thiết và cần áp dụng một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởngtình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật Hình sự.

Bị cáo có 02 tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa tích tuy nhiên hai tiền án này đã được xác định là tình tiết định khung để xét xử bị cáo trong lần phạm tội này nên bị cáokhông phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng, là lao động tự do không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Do vậy không nhất thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]Về xử lý vật chứng:Số ma túy loại Heroine thu giữ của bị cáo là chất Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

[7]Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8]Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định

Về nguồn gốc ma tuý: Theo bị cáo khai mua của một người đàn ông khoảng 35 tuổi không biết tên và địa chỉ ở khu vực cầu Đ, xã L, huyện Đông Hưng, Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Hưng không xác định được người bán nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với số tiền 200.000 đồng mua ma túy là do bị cáo lao động mà có.

6

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoài B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm 0khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51,Điều 38, Điều 50Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài B 05 (năm) năm 09 (chín) thángtù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 09/6/2023.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự.

    Tịch thu, tiêu hủy 0,1098 gam ma túy loại Heroin và toàn bộ bao gói quản lý của Nguyễn Hoài B trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 878/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình,có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Đông Hưng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng ngày 27/10/2023.

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Hoài B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáocó quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, ngày 28/11/2023.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Công an huyện Đông Hưng;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyệnĐông Hưng;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Đông Hưng;
  • - UBND xã T, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu: Hồ sơ, văn phòng;

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hà Thị Nhung

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2023/HSST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 111/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoài Bắc - Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger