Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 111/2024/HS-ST

Ngày: 27-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Linh Sương

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phạm Duy Bảo
  2. Bà Trần Nguyệt Mai

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Quyền - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai Vụ án hình sự thụ lý số 106/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 114/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Văn K (tên gọi khác: Không), sinh năm 1972 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Không nơi đăng ký hộ khẩu thường trú; nơi ở hiện tại: Không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ văn hóa: 04/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con bà: Trần Thị M, sinh năm 1950 (Cha: Vô danh); không có anh, chị, em; vợ: Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1977; có 01 người con sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 30/9/1989, Tòa án nhân dân quận Thủ Đức xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo Bản án số 122/HSST, bị cáo đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 13/12/1993; ngày 29/3/1991, Tòa án nhân dân quận Thủ Đức xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo Bản án số 41/HSST, bị can đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 13/12/1993, không có thông tin về thời điểm chấp hành xong hình phạt tù; ngày 24/12/1991, Tòa án nhân dân quận Thủ Đức xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo Bản án số 936/HSST/TA, kết quả xác minh không có thông tin thời điểm chấp hành xong bản án; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Q; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Bùi Thị T, sinh năm 1988; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, Ấp D, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Với mục đích trộm cắp tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 12 giờ 00 phút ngày 23/4/2024, Trần Văn K đón xe buýt từ Thành phố T đến Bệnh viện C, số B N, Phường A, Quận E tìm người có tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi đi đến hành lang gần cầu thang thoát hiểm tại Lầu B, K1 Phẫu thuật tim nhi và người lớn thì K phát hiện bà Bùi Thị T đang nằm ngủ và có để 01 túi xách có dây đeo chéo bên trong có 01 điện thoại di động hiệu SamSung GALAXY note 20 màu hồng cùng số tiền 119.000 đồng cùng một số giấy tờ tùy thân để trên đầu nằm. K quan sát không có ai để ý nên lén lút đi đến gần chỗ bà T đang nằm dùng tay lấy túi xách của bà T rồi nhanh chóng đi bộ xuống tầng trệt ra ngoài cổng Bệnh viện để tẩu thoát. Lúc này, bàTrang thức giấc và phát hiện mất trộm túi xách nên tìm kiếm và truy hô. Khi K vừa xuống tầng trệt thì bảo vệ Bệnh viện nghe tiếng truy hô của bà T đến đã tiến hành bắt giữ K cùng vật chứng giao cho Công an P, Quận E lập hồ sơ xử lý. Vụ việc sau đó được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q để thụ lý theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, bị cáo Trần Văn K khai nhận toàn bộ hành vi sự việc như diễn biến nêu trên, bị cáo khai một mình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, không có ai khác cùng tham gia.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) túi xách đeo chéo màu ghi có hoa văn, 01 (một) ví hoa văn nhiều màu, 01 (một) căn cước công dân tên Bùi Thị T, số tiền 119.000 đồng (một trăm mười chín nghìn đồng), 01 (một) điện thoại di động hiệu S 20 Ultra 5G màu hồng, 01 (một) áo sơ mi ngắn tay kẻ sọc xanh và 01 (một) quần tây dài màu đen.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 25/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân nhân Q1 kết luận: “Điện thoại di động hiệu S 20 Ultra 5G, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 75%, thời điểm định giá tháng 4/2024, trị giá 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng); túi xách đeo chéo màu ghi có hoa văn và ví tiền hoa văn thổ cẩm nhiều màu, đã qua sử dụng và cũ, thời điểm định giá tháng 4/2024 không có giá trị”.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường.

Tại Bản cáo trạng số 103/CT-VKS-Q5 ngày 24/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Bị cáo Trần Văn K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng nêu trên; bị cáo thống nhất với tội danh và khung hình phạt như cáo trạng đã nêu, thừa nhận việc truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Văn K về tội “Trộm cắp tài sản”. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân xấu nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Văn K hình phạt tù giam với mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù; về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ quần áo gồm 01 (một) áo sơ mi ngắn tay kẻ sọc xanh và 01 (một) quần tây dài màu đen.

Bị cáo không tranh luận và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm quay về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Đối với sự vắng mặt của bị hại tại phiên tòa, xét thấy: Tại giai đoạn điều tra, bị hại đã được Cơ quan điều tra lấy lời khai theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, không có yêu cầu gì về dân sự trong vụ án do đó sự vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Trần Văn K tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa công khai, qua xét hỏi bị cáo Trần Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, người biết việc, kết luận định giá, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 23/4/2024, tại Bệnh viện C, số B N, Phường A, Quận E, bị cáo Trần Văn K đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) túi xách đeo màu ghi có hoa văn bên trong có 01 (một) ví tiền hoa văn thổ cẩm nhiều màu, 01 (một) điện thoại di động hiệu S Note 20 Ultra 5G màu hồng và số tiền 119.000 đồng (một trăm mười chín nghìn đồng) của bà Bùi Thị T. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 25/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân nhân Q1 kết luận: “Điện thoại di động hiệu S 20 Ultra 5G, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 75%, thời điểm định giá tháng 4/2024, trị giá 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng); túi xách đeo chéo màu ghi có hoa văn và ví tiền hoa văn thổ cẩm nhiều màu, đã qua sử dụng và cũ, thời điểm định giá tháng 4/2024 không có giá trị”.

Như vậy, tổng trị giá tài sản bị cáo Trần Văn K đã chiếm đoạt của bị hại là 4.619.00 đồng (Bốn triệu sáu trăm mười chín nghìn đồng), có trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng.

Xét bị cáo là người đã thành niên, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, có năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nêu trên với lỗi cố ý do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Về đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo đủ nhận thức để biết được hành vi xâm phạm quyền sở hữu của người khác là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì muốn chiếm đoạt tài sản của người khác nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

[4.1] Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại, cần xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

[4.3] Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị kết án nhiều lần về các tội xâm phạm sở hữu nay tiếp tục phạm tội xâm phạm sở hữu của người khác cho thấy sau khi chấp hành xong hình phạt tù, hòa nhập cộng đồng bị cáo không chịu sửa đổi, rèn luyện bản thân để thành người có ích cho xã hội mà lại tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức xem thường pháp luật.

[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Qua đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải có một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung. Căn cứ Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù với một thời gian nhất định để có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng” do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, nhận thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, không có khả năng thi hành hình phạt tiền. Căn cứ khoản 2 Điều 50 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

+ 01 (một) túi xách đeo màu ghi có hoa văn, 01 (một) ví hoa văn nhiều màu, 01 (một) căn cước công dân tên Bùi Thị T, số tiền 119.000 đồng (một trăm mười chín nghìn đồng), 01 (một) điện thoại di động hiệu S 20 Ultra 5G màu hồng, là tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại là đúng quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm;

+ 01 (một) áo sơ mi ngắn tay kẻ sọc xanh và 01 (một) quần tây dài màu đen. Xét đây là các vật dụng cá nhân của bị cáo, không còn giá trị sử dụng và tại phiên tòa bị cáo không có yêu cầu gì với những tài sản này nên tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Không có người tham gia tố tụng yêu cầu nên không xem xét.

[8] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo cũng như các vấn đề trách nhiệm dân sự là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, đúng quy định nên được chấp nhận.

[9] Về án phí: Người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Trần Văn K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 24 tháng 4 năm 2024.

  2. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021,

    - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo sơ mi ngắn tay kẻ sọc xanh và 01 (một) quần tây dài màu đen.

    (Tình trạng giao nhận vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/8/2024 giữa Công an Q và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).

  3. Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

    Buộc bị cáo Trần Văn K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

    Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021,

    Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5;
  • - Bộ phận THA HS Tòa án Quận 5;
  • - Phòng PV 06 – Công an TP.HCM;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Linh Sương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 111/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn K-Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger