Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26-8-2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nhường.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Tống Đăng Mạnh.
  2. Ông Vương Tiến Chuẩn.

Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 172/2024/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106A/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Bị đơn: Anh Trương Văn N, sinh năm 1985.

Nơi ĐKNKTT: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Hiện đang chấp hành án tại Đội 26, K2, trại giam H, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái.

(Chị H anh N đều vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 21/3/2024 và những lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Phạm Thị H, biên bản lấy lời khai của bị đơn anh Trương Văn N nội dung vụ án như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Trương Văn N kết hôn với nhau vào năm 2001, trước khi kết hôn có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Chị H anh N có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị H anh N về chung sống cùng nhau ngay tại xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Chị H anh N đều xác định vợ chồng chung sống ban đầu hòa thuận hạnh phúc, đến khoảng cuối năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Chị H cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau làm cho cuộc sống không có hạnh phúc, anh N vi phạm pháp luật và hiện đang chấp hành án tại trại giam H2, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái. Anh N cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do anh đi chấp hành án nên vợ chồng xa cách nên tình cảm không còn, vợ chồng không ai quan tâm đến nhau. Nay chị H thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Trương Văn N, anh Trương Văn N cũng xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, nhưng chị H kiên quyết làm đơn ly hôn với anh thì anh nhất trí ly hôn với chị H.

Về con chung: Chị H anh N có 02 con chung là cháu Trương Nhật L, sinh năm 2003, cháu Trương Thị Khánh H1, sinh ngày 04/5/2009. Hiện hai con chung đang ở cùng chị H. Vợ chồng ly hôn chị H đề nghị Tòa án để chị nuôi dưỡng chăm sóc cháu H1. Anh N xác định do anh đang đi chấp hành án nên không thể nuôi con chung nên anh đề nghị để chị H nuôi dưỡng và chăm sóc cháu H1. Đối với cháu L đã đủ 18 tuổi nên chị H anh N đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Việc cấp dưỡng nuôi con chị H anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Phạm Thị H và anh Trương Văn N tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Con chung là cháu Trương Thị Khánh H1 trình bày nguyện vọng được ở với chị Phạm Thị H khi bố mẹ ly hôn.

Tại phiên tòa, chị Phạm Thị H và anh Trương Văn N vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện của chị H, lời khai của anh N và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H, cho chị Phạm Thị H được ly hôn với anh Trương Văn N.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Trương Thị Khánh H1, sinh ngày 04/5/2009 cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung, công nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Phạm Thị H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, con chung với anh Trương Văn N. Bị đơn anh Trương Văn N vẫn có hộ khẩu thường trú tại thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Hội đồng xét xử xác định: Về quan hệ pháp luật đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phạm Thị H và bị đơn anh Trương Văn N đều vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt chị Phạm Thị H và anh Trương Văn N.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Chị Phạm Thị H và anh Trương Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang vào ngày 16 tháng 11 năm 2001. Trước khi kết hôn hai bên được tự do tìm hiểu và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Như vậy xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

[4] Trong quá trình chung sống hai bên đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2021, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi nhau, làm cho cuộc sống không hạnh phúc, anh N vi phạm quy định của pháp luật và hiện đang đi chấp hành án. Chị H anh N đã sống ly thân với nhau từ năm 2021 cho đến nay và không còn ai quan tâm tới ai. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H anh Nhất 1 có thật. Sau khi thụ lý vụ án chị H cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với nhau nữa, anh N cho rằng vợ chồng có mâu thuẫn, vợ chồng không quan tâm đến nhau. Quá trình giải quyết, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N. Bị đơn anh Trương Văn N cũng xác định vợ chồng có mâu thuẫn, tuy nhiên anh thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn nhưng chị H kiên quyết ly thôn bới anh thì anh nhất trí theo yêu cầu ly hôn của chị H.

[5] Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng cả chị Phạm Thị H và anh Trương Văn N đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo như các quy định đã nêu ở trên. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Phạm Thị H và anh Trương Văn N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Trương Văn N. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc cho chị Phạm Thị H được ly hôn với anh Trương Văn N phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

[6] Về con chung: Chị Phạm Thị H và anh Trương Văn N có 02 con chung là cháu Trương Nhật L, sinh năm 2003, cháu Trương Thị Khánh H1, sinh ngày 04/5/2009. Trường hợp vợ chồng ly hôn chị H và anh N đều đề nghị Tòa án để chị H là người chăm sóc nuôi dưỡng con chung là cháu Trương Thị Khánh H1. Đối với cháu Trương Nhật L đã đủ 18 tuổi nên chị H anh N đề không đề nghị Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi vợ chồng ly thân thì con chung ở cùng chị H và do chị H nuôi dưỡng phát triển ổn định, hiện nay anh N đang đi chấp hành án tại trại giam nên không có điều kiện để chăm sóc con chung. Do vậy, để đảm bảo sự phát triển ổn định của con chung cần giao con chung là cháu Trương Thị Khánh H1 cho chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nguyện vọng của các đương sự, phù hợp với nguyện vọng của con chung và phù hợp với các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét, giải quyết vì các đương sự không yêu cầu.

[7] Về tài sản chung, công nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[8] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6, điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

[9] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phạm Thị H được ly hôn với anh Trương Văn N.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Trương Thị Khánh H1, sinh ngày 04/5/2009 cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết.

    Sau khi ly hôn anh Trương Văn N được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở anh Trương Văn N thực hiện quyền này.

    Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  3. Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006109 ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Phạm Thị H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn.
  • - UBND xã Thanh Hải, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang (Số 40/2001);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Nguyễn Đức Nhường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 111/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: dxZ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger