Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG ĐIỀN

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2024/HS-ST

Ngày 26-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Hoàng Đức.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Di.

2. Ông Phạm Hồng Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu K – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 104/2024/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn D, sinh năm: 1992 tại thành phố Cần Thơ; nơi cư trú: Ấp T, thị trấn T, huyện T, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1963 và bà Phan Thị T, sinh năm: 1974; chưa có vợ con.

Tiền án (có 02 tiền án):

  • - Bản án số 12/2013/HS-ST ngày 07-3-2013 của Toà án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ xử phạt 08 năm tù về tội “ Cướp tài sản” (chưa thi hành phần án phí hình sự và án phí dân sự).
  • - Bản án số 25/2013/HS-ST ngày 20-5-2013 của Toà án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 08 năm tù tại Bản án số 12/2013/HS-ST ngày 07-3-2013 của Toà án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành án là 10 năm 06 tháng tù (chưa thi hành phần án phí hình sự và án phí dân sự).

Tiền sự: Không:

Nhân thân:

  • - Quyết định số 3057/QĐ-CT.UB ngày 22-6-2005 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, thành phố Cần Thơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường G trong thời hạn 24 tháng.
  • - Bản án số 41/2009/HS-ST ngày 24-3-2009 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (phạm tội dưới 18 tuổi).
  • - Bản án số 15/2010/HS-ST ngày 24-8-2010 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ, xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (phạm tội dưới 18 tuổi).

Bị bắt tạm giam ngày 07-3-2024 (có mặt).

Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1993 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn D là đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý, để có tiền tiêu xài và ma tuý sử dụng nên D nảy sinh ý định mua bán trái phép chất ma tuý.

Ngày 03-3-2024, D đến khu vực vòng xuyến “Hai con rồng” giáp ranh giữa huyện L và thành phố B thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu gặp một người đàn ông tên H1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) mua 06 gói ma tuý và 02 đoạn ống nhựa bên trong chứa ma túy với giá 1.500.000đ. Sau khi mua được ma túy, D đưa về phòng trọ số 11, nhà trọ “Thu Trinh” thuộc tổ A, ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bỏ vào trong hộp nhựa màu trắng xanh (trên vỏ hộp có chữ Vaseline) cất giấu với mục đích sử dụng và bán lại cho người khác có nhu cầu để kiếm lời.

Đến ngày 06-3-2024, D bán cho một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) 02 gói ma túy đá với giá 300.000đ và lấy một ít ra sử dụng.

Khoảng 09 giờ 40 phút ngày 07-3-2024, Nguyễn Văn T1 đến phòng trọ gặp D hỏi mua 150.000đ ma túy, được D đồng ý và nói đứng đợi để lấy ma túy giao. Cùng lúc, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh B phối hợp với Công an xã A, huyện L và Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm số 3 Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển kiểm tra, phát hiện bắt quả tang D đang có hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ 04 gói ma túy, 02 đoạn ống nhựa. Sau đó, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh B đã chuyển giao D cùng toàn bộ vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L điều tra theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, Nguyễn Văn D đã khai nhận tàng trữ số ma túy trên nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời. Ngày 07-3-2024, T1 đến phòng trọ hỏi mua 150.000đ ma túy, mới nhận tiền, nhưng chưa kịp giao thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang.

Lời khai của D phù hợp với lời khai của Nguyễn Văn T1 và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.

Tại quyết định trưng cầu giám định số 286/QĐ-CSMT ngày 08-3-2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B yêu cầu Phòng K1 Công an tỉnh B – Vũng Tàu giám định:

“Mẫu gửi giám định có phải là chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy không? Loại chất ma túy, tiền chất gì? Khối lượng của mẫu gửi giám định là bao nhiêu?”.

Tại Kết luận giám định số 193/KL-KTHS-MT ngày 13-3-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

  • “- Mẫu A1 có khối lượng 2,8216 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
  • - Mẫu A2 có khối lượng 0,4889 gam, là ma túy, loại Methamphetamine”.

Vật chứng thu giữ và xử lý: 01 phong bì màu trắng bên trong có chứa ma tuý, sau khi giám định được Phòng K1 Công an tỉnh B niêm phong lại vụ số 193 ngày 13-03-2024; 01 điện thoại di động, nhãn Samsung, màu đen; 01 hộp nhựa màu trắng (bên trên có chữ Vaseline) và 1.000.000đ. Hiện nay, đã chuyển giao cho Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền quản lý, chờ xử lý.

Quá trình điều tra, D còn khai nhận trước đó đã bán trái phép chất ma tuý cho một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) vào ngày 06-3-2024. Tuy nhiên, ngoài lời khai của D thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh về hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa đủ căn cứ vững chắc để xem xét, xử lý đối với hành vi này.

Nguyễn Văn T1 có hành vi mua sử dụng trái phép chất ma tuý, nhưng tại thời điểm bắt quả tang chưa nhận được ma tuý nên không có cơ sở để xử lý về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Người đàn ông tên H1 có hành vi bán ma tuý và người đàn ông mua ma túy của D, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.

Tại Cáo trạng số 119/CT-VKSLĐ ngày 26-6-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Người làm chứng anh Nguyễn Văn T1 đã được triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt không có lý do.

Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ án tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”,

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì màu trắng, sau khi giám định được được Phòng K1 Công an tỉnh B niêm phong lại vụ số 193 ngày 13-3-2024 và 01 hộp nhựa màu trắng có nắp màu xanh.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung (số imei: 354665/11/452357/8) và 450.000.000đ.
  • - Trả lại cho bị cáo 550.000₫.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố; không có ý kiến tranh luận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người làm chứng anh Nguyễn Văn T1 vắng mặt, nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định của pháp luật tiếp tục xét xử vụ án.

[3] Về hành vi phạm tội và tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:

Khoảng 09 giờ 40 phút, ngày 07-3-2024, tại phòng số 11 nhà trọ “T" thuộc tổ A, ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh B phối hợp với Công an xã A, huyện L và Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm số 3 Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn D đang có hành vi tàng trữ trái phép tổng khối lượng 3,3105 gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích bán kiếm lời và đang giao dịch bán cho Nguyễn Văn T1 01 gói với giá 150.000đ, nhưng chưa kịp giao thì bị phát hiện bắt tang. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra bị cáo khai nhận trước đó ngày 06-3-2024, bán cho một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch 02 gói ma túy đá với giá 300.000đ, nhưng không có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh về hành vi phạm tội.

Tại khoản 2 Điều 98 của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định:

“Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với những chứng cứ khác của vụ án. Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội”.

Như vậy, ngoài lời khai của bị cáo ra thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh về hành vi phạm tội, nếu như có căn cứ phạm tội thì xem xét, xử lý sau. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý về ma túy và gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người, với gia đình và xã hội, biết rõ nghiêm cấm tất cả các hành vi tàng trữ, sử dụng, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy, lẽ ra phải cùng cộng đồng chung sức ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn này khỏi đời sống xã hội, nhưng vì hám lợi mà tiếp tay cho ma túy lan rộng cũng như làm phát sinh các loại tội phạm khác là cố ý thực hiện tội phạm. Số lượng ma túy bị cáo cất giấu khá lớn nên cũng xem xét, đánh giá trong quá trình lượng hình để quyết định mức hình phạt cho phù hợp.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 41/2009/HS-ST ngày 24-3-2009 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh; tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 15/2010/HS-ST ngày 24-8-2010, tội “Cướp tài sản” theo Bản án số 12/2013/HS-ST ngày 07-3-2013 và tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 25/2013/HS-ST ngày 20-5-2013 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ. Tại thời điểm phạm tội bị kết án theo Bản án số 41/2009/HS-ST ngày 24-3-2009 và Bản án số 15/2010/HS-ST ngày 24-8-2010, bị cáo là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, bị kết án về tội ít nghiêm trọng. Như vậy, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 của Bộ luật Hình sự, thì được coi là không có án tích. Tại Bản án số 25/2013/HS-ST ngày 20-5-2013, bị xử phạt 02 năm 06 tháng tù, tổng hợp với hình phạt 08 năm tù tại Bản án số 12/2013/HS-ST ngày 07-3-2013, buộc phải chấp hành là 10 năm 06 tháng tù. Tuy nhiên, hành vi phạm tội bị kết án theo Bản án số 12/2013/HS-ST ngày 07-3-2013 xảy ra trước hành vi phạm tội bị kết án tại 25/2013/HS-ST ngày 20-5-2013 nên bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, lần phạm tội này được xác định là tái phạm nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Từ những nhận định và phân tích nói trên, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ cho bị cáo sửa chữa cũng như răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo bị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù đủ sức răn đe giáo dục nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[8] Về xử lý vật chứng:

  • [8.1] Đối với 01 phong bì màu trắng, sau khi giám định được được Phòng K1 Công an tỉnh B niêm phong lại vụ số 193 ngày 13-3-2024 là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
  • [8.2] Đối với 01 hộp nhựa màu trắng có nắp màu xanh (bên trên có chữ Vaseline) không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • [8.3] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung (số imei: 354665/11/452357/8), bị cáo dùng làm phương tiện liên lạc mua bán trái phép chất ma túy nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • [8.4] Đối với số tiền 450.000.000đ, bị cáo khai có được do phạm tội mà có nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • [8.5] Đối với số tiền 550.000đ là của cá nhân bị cáo không liên quan đến hành vi phạm và có nhu cầu nhận lại nên trả cho bị cáo.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”,

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 07-3-2024.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

  • 2.1 Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì màu trắng, sau khi giám định được được Phòng K1 Công an tỉnh B niêm phong lại vụ số 193 ngày 13-3-2024 và 01 (một) hộp nhựa màu trắng có nắp màu xanh (bên trên có chữ Vaseline).
  • 2.2 Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung và 450.000 (bốn trăm năm mươi nghìn) đồng.
  • 2.3 Trả lại cho bị cáo 550.000 (năm trăm năm mươi nghìn) đồng.

(Vật chứng đang được Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bảo quản theo biên bản giao nhận vật chứng số 107/BB-CCTHADS ngày 27-6-2024 và Biên lai thu tiền số 0002210 ngày 28-6-2024).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Hoàng Đức

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, đương sự;
  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - PV06, PC10 – Công an tỉnh BR-VT;
  • - VKSND huyện Long Điền;
  • - Công an huyện Long Điền;
  • - CCTHA dân sự huyện Long Điền;
  • - UBND xã/phường nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 111/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 09 giờ 40 phút, ngày 07-3-2024, tại phòng số 11 nhà trọ “Thu Trinh” thuộc tổ 13, ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu phối hợp với Công an xã A, huyện L và Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm số 3 Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn D đang có hành vi tàng trữ trái phép tổng khối lượng 3,3105 gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích bán kiếm lời và đang giao dịch bán cho Nguyễn Văn T 01 gói với giá 150.000đ, nhưng chưa kịp giao thì bị phát hiện bắt tang.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger