Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2024/HNGĐ-ST

Ngày 25/4/2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Mai Thị Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Hiếu Xuyên;

2. Bà Phan Mỹ Trang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 538/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2023 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Ánh N, sinh năm 1994;

Địa chỉ: Số A, tổ B, ấp E, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).

* Bị đơn: Anh Đặng Hoàng C, sinh năm 1989;

Địa chỉ: Ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Đang chấp hành cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số 1; địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông. (Xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện ngày 06/11/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Huỳnh Thị Ánh N trình bày như sau:

Chị và anh Đặng Hoàng C tự tìm hiểu, quen biết nhau được 07 tháng thì tiến tới chung sống với nhau vào năm 2010, có tổ chức đám cưới, hôn nhân lần thứ nhất của cả hai. Anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 31/07/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tới năm 2017 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và anh C có sử dụng ma tuý nên vợ chồng thường xuyên cự cải, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Mặc dù, chị đã cho anh C cơ hội để cùng nhau lo cho con cái nhưng không có kết quả. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Đặng Hoàng C; Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung tên Đặng Huỳnh Gia B, sinh ngày 04/12/2010 và Đặng Huỳnh Gia H, sinh ngày 09/8/2020. Sau ly hôn, chị yêu cầu được quyền 02 con chung và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

* Lời khai của anh Đặng Hoàng C tại biên bản lấy lời khai ngày 28/02/2024 như sau: Anh và chị N kết hôn với nhau vào năm 2010, đăng ký kết hôn hai bên hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc hay lừa dối gì nhau, đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 31/07/2015. Do hiện tại anh đang chấp hành án xử lý vi phạm hành chính tại cơ sở cai nghiện ma túy số 1, không thể đi ra ngoài để tham gia hòa giải tại Tòa án để vợ chồng về đoàn tụ. Nếu như vợ anh cứ cương quyết yêu cầu giải quyết xin ly hôn với anh thì anh cũng đồng ý ly hôn như yêu cầu của chị N. Anh và chị N có 02 con chung tên Đặng Huỳnh Gia B, sinh ngày 04/12/2010 và Đặng Huỳnh Gia H, sinh ngày 09/8/2020 hiện nay đang sống với chị N tại huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Anh đồng ý giao 02 con chung cho chị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con chung do chị N không có yêu cầu nên anh không có ý kiến. Trong quá trình chung sống, anh và chị N có tài sản chung nhưng trong vụ án này do nguyên đơn không đề cập giải quyết nên anh không có ý kiến gì. Sau này anh sẽ tự thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì sẽ yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác. Vợ chồng anh không có nợ chung. Do anh đang chấp hành cai nghiện tại cơ sở cai nghiện ma túy số 1, không thể có mặt trong các buổi hòa giải, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia xét xử nên anh đề nghị Tòa án xử vắng mặt.

* Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên đã từ bỏ quyền của mình.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 8, 9, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xem xét, quyết định. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N được ly hôn với anh C. Về con chung: Giao 02 con chung cho chị N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, anh C không phải cấp dưỡng; Tài sản chung và nợ chung: không xem xét. Chị N yêu cầu ly hôn nên phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Anh Đặng Hoàng C (là bị đơn trong vụ án) có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên HĐXX quyết định xét xử vắng mặt anh C theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Chị N và anh C kết hôn với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 31/07/2015 nên được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Nay vợ chồng chị N và anh C phát sinh mâu thuẫn, chị N xin ly hôn nên Toà án thụ lý, giải quyết là phù hợp với các quy định của pháp luật.

Trong quá trình hôn nhân, chị N cho rằng do anh C nghiện ma túy, nhiều lần cai nghiện nhưng lại tái nghiện, vợ chồng cự cãi, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Chị N yêu cầu ly hôn và anh C cũng chấp nhận yêu cầu ly hôn. Xét thấy, quan hệ vợ chồng giữa chị N và anh C đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa hai bên không đạt được nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của chị N được ly hôn với anh C.

[2.2] Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung tên Đặng Huỳnh Gia B, sinh ngày 04/12/2010 và Đặng Huỳnh Gia H, sinh ngày 09/8/2020, hiện nay đang sống với chị N.

Xét thấy, hiện nay 02 cháu B và cháu H đang sinh sống cùng với chị N, anh C cũng đồng ý giao 02 cháu cho chị N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và cháu B cũng có nguyện vọng được sống với chị N. Do đó, xuất phát từ lợi ích mọi mặt của cháu B và cháu H, giúp 02 cháu phát triển tốt về thể chất và tinh thần, Hội đồng xét xử giao 02 cháu cho chị N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con, tuy nhiên chị N không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Chị N phải tạo điều kiện cho anh C được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

[2.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị N và anh C không tranh chấp tài sản chung và nợ chung nên HĐXX không xem xét. Nếu sau này giữa chị N và anh C có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ được Tòa án thụ lý, giải quyết bằng vụ án khác.

[3] Lời phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về nội dung giải quyết vụ án là phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Chị N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Các Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Ánh N.

- Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Ánh N được ly hôn với anh Đặng Hoàng C.

- Về con chung: Giao 02 con chung tên Đặng Huỳnh Gia B, sinh ngày 04/12/2010 và Đặng Huỳnh Gia H, sinh ngày 09/8/2020 cho chị N được tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.

Anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị N không có yêu cầu.

Chị N phải tạo điều kiện cho anh C được thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.

Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị N và anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét. Nếu sau này giữa chị N và anh C có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ được Tòa án thụ lý, giải quyết bằng vụ án khác.

- Về án sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị Ánh N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013325 ngày 16 tháng 11 năm 2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Anh Đặng Hoàng C không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Chị N được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh C được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh An Giang;

- VKSND h. Thoại Sơn;

- Chi cục THADS h. Thoại Sơn;

- UBND xã Đông Thạnh, h. Hóc Môn, TP. HCM;

- Các đương sự (Để thi hành);

- Lưu VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Mai Thị Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HNGĐ-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 111/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger