TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 111/2024/HS-ST Ngày 23-8-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Chung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Văn Khương;
Ông Nguyễn Anh Đức.
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Tình - Thư ký Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 102/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Minh T, sinh ngày 28 tháng 10 năm 1975 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 6/66, phường Th, quận HB, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Bác sĩ; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, hiện đang bị đình chỉ sinh hoạt Đảng; con ông Nguyễn Bá Nh (đã chết) và con bà Ngô Thị Th; có vợ là Trần Thị Thanh H và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/6/2024 - Có mặt.
- Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 28 tháng 6 năm 1982 tại Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT: Số 6/66, phường Th, quận HB, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay: Số 56/34, phường T, quận HB, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Nhân viên; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bá Nh (đã chết) và con bà Ngô Thị Th; có chồng là Trần Anh Ng và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/6/2024 - Có mặt.
- Trần Anh Ng, sinh ngày 02 tháng 6 năm 1988 tại Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT: Số 50/286, phường M, quận NQ, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay: Số 56/34, phường Th, quận HB, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh H và con bà Kiều Thị Ch; có vợ là Nguyễn Thị Thu H và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 153/HSST ngày 28/10/2005 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 04 năm tù về tội Cướp tài sản; tại Bản án hình sự sơ thẩm số 246/2005/HSST ngày 16/12/2005 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 05 năm tù về tội Cướp tài sản, tổng hợp với hình phạt 04 năm tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 153/HSST ngày 28/10/2005 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho 02 bản án là 09 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/5/2005 (đã được xóa án tích); bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/3/2024 đến ngày 28/3/2024 chuyển tạm giam - Có mặt.
- Bị hại: Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1976; nơi cư trú: Số 03/10, phường H, quận HB, thành phố Hải Phòng - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 09/3/2024, Nguyễn Thị Thu H có nói chuyện với anh trai ruột là Nguyễn Minh T thì được T kể với H về việc T có mâu thuẫn trong công việc với bà Vũ Thị Ch (Giám đốc; địa chỉ số 2B, phường M, quận HB) và muốn ném đá vào xe ô tô của bà Ch cho bõ tức.
Sau đó, vào buổi trưa ngày 11/3/2024, H đến nhà T ăn cơm, sau khi ăn cơm xong T nói với H về việc muốn ném đá vào xe ô tô của bà Ch thì H đồng ý và nói: “Ừ thì ném chết mẹ nó đi” rồi H hỏi T về đặc điểm xe ô tô của bà Ch. T mở danh mục ảnh chụp trong điện thoại của T và cho H xem ảnh của 01 xe ô tô màu trắng, phóng to Kiển kiểm soát có số là 15K-126. Đến khoảng 14 giờ ngày 11/3/2024, bà Hoàng Thị L (sinh năm 1976, cán bộ ) khi đến cơ quan làm việc đã đỗ 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Honda ACCORD màu trắng, có Biển kiểm soát 15K-068 dưới lòng đường, sát vỉa hè, đối diện cổng Trung tâm kiểm dịch y tế quốc tế Hải Phòng, đầu xe hướng về lối ra ngã tư Nguyễn Tri Phương - Đinh Tiên Hoàng, đuôi xe hướng về lối ra đường Hoàng Văn Thụ.
Đến khoảng 15 giờ ngày 11/3/2024, T và H trao đổi điện thoại việc riêng thì H hỏi T vị trí của chiếc ô tô cần đáp đá, T nói với H xe ô tô (tức là xe của bà Ch) lúc nào cũng đỗ ở cổng. Sau khi nói chuyện với T, H nói lại nội dung câu chuyện và ý định của T với Trần Anh Ng (là chồng của H). Ng gợi ý dùng sơn ném vào xe ô tô cho nhanh và dễ thực hiện hơn, đồng thời Ng nhận sẽ thực hiện hành vi ném sơn vào xe ô tô bà Ch. H đồng ý và đưa cho Ng 200.000 đồng để Ng đi mua sơn. Ng cầm tiền đi mua 01 hộp sơn Hải Phòng màu đỏ và cốc nhựa để đựng sơn, sau đó về nhà đổ sơn ra cốc nhựa và treo cốc nhựa đã có sơn ở đầu xe mô tô của Ng. H nói cho Ng biết vị trí xe ô tô của bà Ch luôn đỗ ở cổng cơ quan cùng đặc điểm xe là xe ô tô màu trắng, Biển kiểm soát 15K-126. Tuy nhiên, Ng chỉ để ý đến đặc điểm là xe ô tô màu trắng, Biển kiểm soát có số cuối. Khoảng gần 16 giờ cùng ngày, Ng và H thống nhất cùng nhau đi thực hiện hành vi ném sơn vào xe ô tô của bà Ch, cụ thể: H đi qua số 2B T trước để xem có chiếc xe ô tô cần đáp ở đó hay không rồi báo cho Ng. Sau đó, Ng điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Nouvo, Biển kiểm soát 16N2-04, còn H điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 15B1-339. Ng và H đi theo hướng từ chân cầu Lạc Long sang đường Điện Biên Phủ rồi rẽ trái vào đường Hoàng Văn Thụ (trên đường đi Ng dừng lại ở đường Hoàng Văn Thụ để đeo khẩu trang và che biển kiểm soát xe mô tô), sau đó Ng rẽ phải ra đường Nguyễn Tri Phương đến đoạn giao với đường Đinh Tiên Hoàng thì rẽ trái vào đường Thất Khê. H đi theo hướng từ chân cầu Lạc Long sang đường Bến Bính rẽ phải vào đường Nguyễn Tri Phương, đến ngã tư Hoàng Văn Thụ - Nguyễn Tri Phương thì đi theo hướng cầu Hoàng Văn Thụ sau đó rẽ phải vào đường T. Khi đi đến đoạn Trung tâm, H thấy chiếc xe ô tô Biển kiểm soát 15K-126 của bà Ch đang đỗ ở trước cổng Trung tâm (đầu xe quay ra ngoài đường còn đuôi xe ô tô đang quay vào cổng cơ quan). Sau đó, H tiếp tục di chuyển đến ngã tư giao đường Đinh Tiên Hoàng - Nguyễn Tri Phương thì gặp Ng đang điều khiển xe mô tô từ đường Nguyễn Tri Phương rẽ trái vào đường T. Lúc này, H và Ng dừng xe cách nhau khoảng 05 mét. H ra tín hiệu cho Ng bằng cách gật đầu và nói “Xe để ở cổng” rồi bỏ đi. Ng hiểu ý H muốn nói xe ô tô của bà Ch đang ở cổng nên tiếp tục điều khiển xe mô tô của mình đi vào đường T. Khi đến gần cổng Trung tâm thì Ng dừng xe sát vào lề đường bên phải rồi quan sát phía đối diện thì Ng thấy có 01 xe ô tô màu trắng Biển kiểm soát có số đuôi (chính là chiếc xe Biển kiểm soát 15K-068 của bà Hoàng Thị L đang đỗ sát vỉa hè đối diện cổng Trung tâm). Sau một lúc quan sát không thấy có người ở gần chiếc xe ô tô trên, Ng dùng một tay lấy cốc sơn treo ở đầu xe mô tô, một tay điều khiển xe mô tô di chuyển đến gần đầu xe ô tô 15K-068 rồi đổ, hất cốc sơn màu đỏ lên phần đầu, phần cánh cửa và phần hông bên trái xe. Sau đó, Ng đáp chiếc cốc nhựa đựng sơn xuống đường phía đuôi xe rồi bỏ chạy ra bờ hồ Tam Bạc. Tiếp đó, Ng gọi cho H mang cần câu ra hồ Tam Bạc cho Ng câu cá. Khi gặp H thì Ng được biết mình đã ném sơn nhầm vào xe 15K- 068 của bà Hoàng Thị L chứ không phải ném vào xe của bà Ch. Sau đó, H về nhà kể lại sự việc Ng ném sơn nhầm xe cho T thì T nói: “Có thế mà cũng nhầm”.
Sau khi sự việc xảy ra, bà Hoàng Thị L đã tới Cơ quan điều tra trình báo. Tiến hành khám nghiệm hiện trường, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng thu giữ được 01 cốc nhựa đựng chất lỏng dạng sơn màu đỏ nằm dưới lòng đường tại vị trí xe 15K-068 đang đỗ.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 633/KL-HĐĐGTS ngày 19/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hồng Bàng kết luận: “Nhân công vệ sinh tẩy sơn bằng dung dịch chuyên dụng: 500.000 đồng; nhân công thay nẹp kính cánh cửa trên dưới phía trước bên lái: 400.000 đồng; nhân công thay nẹp kính cánh cửa trên dưới phía sau bên lái: 400.000 đồng; sơn nóc xe: 2.500.000 đồng; sơn tai xe bên lái: 1.500.000 đồng; sơn cánh cửa trước bên lái (phần thân cánh cửa): 1.800.000 đồng; sơn cánh cửa sau bên lái (phần thân cánh cửa): 1.800.000 đồng; sơn ốp gương chiếu hậu bên lái: 400.000 đồng; sơn hông bên lái: 1.500.000 đồng; sơn nắp cốp sau: 1.800.000 đồng; sơn la-zang trước và sau bên lái: 700.000 đồng; nẹp kính cánh cửa trên dưới phía trước bên lái: 2.655.000 đồng; nẹp kính cánh cửa trên dưới phía sau bên lái: 2.195.000 đồng; chất tẩy sơn chuyên dụng: 200.000 đồng; giẻ lau: 70.000 đồng”. Tổng trị giá tài sản bị thiệt hại là: 18.420.000 đồng”.
Ngày 13/3/2024, Trần Anh Ng ra đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 điện thoại nhãn hiệu Xiaomi màu trắng, có số Imei 865298056408580 bên trong lắp 01 thẻ sim số 8401230224189373; 01 xe mô tô nhãn hiệu Novou màu trắng Kiển kiểm soát 16N2-04; đăng ký xe mô tô và giấy mua bán xe; 01 áo chống nắng dài tay, sáng màu, bên trên có bám dính tạp chất màu đỏ; 01 quần dài, màu xanh đậm, trên quần có bám dính tạp chất màu đỏ; 01 mũ bảo hiểm (dạng mũ nửa đầu) màu đen, phía trước có chữ Adidas màu trắng; 01 áo dài tay màu xanh đậm, tay áo có 3 hình sọc trắng; 01 hộp sơn (Hải Phòng) đã bị mở, bên trong có dung dịch dạng sơn màu đỏ. Ng khai nhận chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi, chiếc xe mô tô nhãn hiệu màu trắng, các trang phục quần áo, mũ bảo hiểm là đồ vật, tài sản Ng sử dụng khi thực hiện hành vi, hộp sơn đã mở là số lượng sơn còn thừa sau khi Ng đã đổ 1 phần ra cốc nhựa. Cùng ngày, Nguyễn Minh T, Nguyễn Thị Thu H đến cơ quan Công an đầu thú.
Tại Cơ quan điều tra, T, H khai nhận phù hợp với lời khai của Ng và phù hợp nội dung sự việc như đã nêu trên. Cơ quan điều tra đã thu giữ của T 01 điện thoại Smartphone nhãn hiệu REALME màu xanh có số Imei 1 là 862949053229212, Imei 2 là 862949053229204 được lắp 02 thẻ sim có số 8984048000020274886 và 8401180824146020. Thu giữ của H 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo màu đen có số Imei 1 là 865966046969412, số Imei 2 là 865966046969404 bên trong có lắp thẻ sim. Tiến hành giám định dữ liệu điện thoại, tại Bản Kết luận giám định số 1793/KL-KTHS ngày 14/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “Đối tượng giám định ký hiệu A1: Trích xuất thông tin 79 cuộc gọi; 20 cuộc trò chuyện Facebook; 20 cuộc trò chuyện Facebook Messenger; 18 cuộc trò chuyện Messages; 55 cuộc trò chuyện Zalo trong khoảng thời gian từ ngày 06/3/2024 đến ngày 13/3/2024 trên điện thoại nhãn hiệu REALME. Đối tượng giám định ký hiệu A2: Trích xuất thông tin 83 cuộc gọi; 43 cuộc trò chuyện Facebook; 43 cuộc trò chuyện Facebook Messenger; 28 cuộc trò chuyện Messages; 05 cuộc trò chuyện Telegram; 14 cuộc trò chuyện Telegram Web; 18 cuộc trò chuyện WhatsApp; 28 cuộc trò chuyện Zalo trong khoảng thời gian từ ngày 06/3/2024 đến ngày 13/3/2024 trên điện thoại nhãn hiệu XIAOMI. Đối tượng giám định ký hiệu A3: Trích xuất thông tin 100 cuộc gọi; 12 cuộc trò chuyện Facebook; 12 cuộc trò chuyện Facebook Messenger; 09 cuộc trò chuyện Messages; 21 cuộc trò chuyện Zalo trong khoảng thời gian từ ngày 06/3/2024 đến gày 13/3/2024 trên điện thoại nhãn hiệu VIVO”. Có nội dung thể hiện việc trao đổi qua Zalo giữa Nguyễn Minh T và Nguyễn Thị Thu H vào khoảng 15 giờ chiều ngày 11/3/2024 phù hợp với tài liệu điều tra thu thập được”.
Về tài sản, vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Smartphone REALME màu xanh có số Imei 1 là 862949053229212, Imei 2 là 862949053229204 được lắp 02 thẻ sim có số 8984048000020274886 và 8401180824146020 thu giữ của Nguyễn Minh T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen có số Imei 1 là 865966046969412, số Imei 2 là 865966046969404 bên trong có lắp thẻ sim thu giữ của Nguyễn Thị Thu H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi màu trắng số Imei 865298056408580 bên trong lắp 01 thẻ sim số 8401230224189373 thu giữ của Trần Anh Ng; 01 cốc nhựa đựng chất lỏng dạng sơn màu đỏ; 01 xe mô tô nhãn hiệu Novou màu trắng Biển kiểm soát 16N2-041, đăng ký xe mô tô và giấy mua bán xe; 01 áo chống nắng dài tay, sáng màu, trên có bám dính tạp chất màu đỏ; 01 quần dài, màu xanh đậm, trên quần có bám dính tạp chất màu đỏ; 01 mũ bảo hiểm (dạng mũ nửa đầu) màu đen, phía trước có chữ Adidas màu trắng; 01 áo dài tay màu xanh đậm, tay áo có 3 hình sọc trắng; 01 hộp sơn (Hải Phòng) đã bị mở, bên trong có dung dịch dạng sơn màu đỏ chuyển Chi cục thi hành án dân sự quận Hồng Bàng.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Minh T, Nguyễn Thị Thu H và Trần Anh Ng đã liên đới bồi thường cho bà Hoàng Thị L số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), đến nay bà L không có yêu cầu nào khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Minh T, Nguyễn Thị Thu H, Trần Anh Ng đã khai nhận toàn bộ hành vi như trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ được, kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hồng Bàng, kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số: 76/CT-VKSHB ngày 10 tháng 7 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng truy tố Nguyễn Minh T, Nguyễn Thị Thu H, Trần Anh Ng về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận thực hiện hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của bà Hoàng Thị L như đã nêu trên, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ được, kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hồng Bàng, kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng và nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng.
Tại phiên tòa, bị hại là bà Hoàng Thị L xác định đã nhận đủ số tiền các bị cáo đã bồi thường là 20.000.000 đồng và đến nay không còn yêu cầu, đề nghị nào khác, đồng thời xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Tại phiên tòa, sau phần xét hỏi và tranh luận, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Trần Anh Ng từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Thời gian tù tính từ ngày tạm giữ 19/3/2024. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nguyễn Minh T từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nguyễn Thị Thu H từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 45, điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với Nguyễn Minh T và Nguyễn Thị Thu H.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Nguyễn Minh T, Nguyễn Thị Thu H, Trần Anh Ng đã liên đới bồi thường xong về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại của bà Hoàng Thị L. Đến nay, bà L không có yêu cầu gì khác về trách nhiệm dân sự, nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý tài sản, vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Smartphone REALME màu xanh có số Imei 1 là 862949053229212, Imei 2 là 862949053229204 thu giữ của Nguyễn Minh T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen có số Imei 1 là 865966046969412, số Imei 2 là 865966046969404 thu giữ của Nguyễn Thị Thu H; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Novou màu trắng Biển kiểm soát 16N2-0414 và các giấy tờ kèm theo (đăng ký xe mô tô và giấy mua bán xe - xe đã qua sử dụng) thu giữ của Trần Anh Ng do liên quan đến hành vi phạm tội. Trả lại cho bị cáo Trần Anh Ng 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi màu trắng số Imei 865298056408580 do không liên quan đến hành vi phạm tội. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cốc nhựa đựng chất lỏng dạng sơn màu đỏ đã bị bóp méo; 01 (một) áo chống nắng dài tay, sáng màu, trên có bám dính tạp chất màu đỏ ở một số vị trí; 01 (một) quần dài, màu xanh đậm, trên quần có bám dính tạp chất màu đỏ ở một số chỗ; 01 (một) mũ bảo hiểm (dạng mũ nửa đầu) màu đen, phía trước có chữ Adidas màu trắng; 01 (một) áo dài tay màu xanh đậm, tay áo có 3 hình sọc trắng; 01 (một) hộp sơn (Hải Phòng) đã bị mở, bên trong có dung dịch dạng sơn màu đỏ do liên quan đến hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, phần lời nói sau cùng các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về tài liệu, chứng cứ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên thu thập; các bị cáo, bị hại cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại không có khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Vì vậy, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về nhận định các tình tiết của vụ án:
[3] Về tội danh: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ được, Kết luận định giá tài sản số 633/KL-HĐĐGTS ngày 19/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hồng Bàng, Kết luận giám định số 1793/KL-KTHS ngày 14/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận: Do mâu thuẫn trong công việc, Nguyễn Minh T đã nảy sinh ý định làm hư hỏng xe ô tô của bà Vũ Thị Ch (Giám đốc). T nói ý định trên và cung cấp các thông tin về đặc điểm xe, biển số xe ô tô cho H. Ngày 11/3/2024, T báo tin vị trí đỗ xe của bà Ch cho H biết qua điện thoại, H nói với Ng về ý định của T và bàn bạc việc gây hư hỏng xe của bà Ch với Ng. Sau đó, H đưa 200.000 đồng cho Ng đi mua sơn và cốc nhựa. Sau khi chuẩn bị xong, H và Ng mỗi người điều khiển 01 xe mô tô để đi đến đường T. H xác định vị trí của chiếc xe ô tô T muốn đáp sơn sau đó thông báo, chỉ dẫn cho Ng. Sau khi nhận được thông tin chỉ dẫn, xác nhận từ H, Ng đã trực tiếp dùng cốc nhựa có đổ sẵn sơn đỏ hất vào chiếc xe ô tô Biển kiểm soát 15K-068 của bà Hoàng Thị L, gây thiệt hại 18.420.000 đồng (mười tám triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng). Hành vi nêu trên của T, H, Ng đã đồng phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 178 Bộ luật Hình sự.
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.
[5] Về tình tiết định khung hình phạt: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội gây thiệt hại cho bị hại tổng số tiền 18.420.000 đồng, nên các bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51. Bị cáo T và H ngoài hành vi phạm tội lần này ra đều chấp hành tốt các quy định của pháp luật nên T và H được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác, các bị cáo có bố là ông Nguyễn Bá Nh được tặng thưởng Huy chương vì sự nghiệp xây dựng tổ chức công đoàn, được tặng thưởng Huân chương Chiến sĩ giải phóng, được tặng danh hiệu Dũng sĩ; có mẹ là bà Ngô Thị Th được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì; ngoài ra các bị cáo ra đầu thú, được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về vai trò và hình phạt: Vụ án này có đồng phạm, do đó cần phân hóa vai trò của các bị cáo để xem xét khi quyết định hình phạt.
[8] Về vai trò: Trong vụ án này, hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện tính đồng phạm giản đơn. Các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể. Bị cáo T là người khởi sướng việc ném đá vào xe của bà Ch nên T có vai trò cao nhất. Việc H và Ng không thực hiện việc ném đá mà thực hiện việc tạt sơn và tạt nhầm vào xe của bà L là nằm ngoài mục đích của T nhưng T bỏ mặc hậu quả xảy ra. Bị cáo H là người tiếp nhận ý chí và trao đổi với Ng về việc ném đá vào xe bà Ch giúp cho T đồng thời đưa tiền cho Ng để mua sơn và cốc nhựa thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Ng là người thực hành tích cực nên H và Ng có vai trò ngang nhau và thấp hơn T.
[9] Về hình phạt chính: Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, mục đích của hình phạt, nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội. Xét thấy, do mâu thuẫn cá nhân, Nguyễn Minh T đã nảy sinh ý định ném đá vào xe bà Ch và nói chuyện với em gái là Nguyễn Thị Thu H để thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, đánh giá các bị cáo T, H nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu tại mục [6]; mặt khác, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đồng thời, cần đảm bảo chính sách hình sự của Nhà nước khoan hồng đối với người phạm tội đầu thú, thành khẩn khai báo, bồi thường đầy đủ thiệt hại, khắc phục hậu quả, gia đình có công với đất nước, có nơi ở ổn định, rõ ràng. Do vậy, áp dụng hình phạt tù nhưng cho các bị cáo T, H được hưởng án treo, giao cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng cải tạo và răn đe tội phạm và đấu tranh phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có cơ sở. Đối với bị cáo Ng mặc dù có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu tại mục [6] và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên nhân thân bị cáo Ng có 02 tiền án mặc dù đã được xóa án tích nhưng bị cáo vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Điều đó thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo Ng không tốt. Do đó, cần cách ly bị cáo Ng khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có cơ sở.
[10] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 178 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo T phải nuôi mẹ già và con nhỏ, vợ bị cáo không có công việc; bị cáo H phải nuôi 02 con nhỏ, chồng bị cáo là Trần Anh Ng cũng bị xét xử trong vụ án này và bị xem xét áp dụng hình phạt tù giam; bị cáo Ng không có việc làm ổn định. Mặt khác, không có căn cứ xác định các bị cáo có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có cơ sở.
[11] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận số tiền 20.000.000 đồng do các bị cáo liên đới bồi thường, đến nay bị hại không còn yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[12] Về xử lý tài sản,vật chứng: Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Smartphone REALME màu xanh có số Imei 1 là 862949053229212, Imei 2 là 862949053229204 thu giữ của Nguyễn Minh T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen có số Imei 1 là 865966046969412, số Imei 2 là 865966046969404 thu giữ của Nguyễn Thị Thu H; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Novou màu trắng Biển kiểm soát 16N2-0414 và các giấy tờ kèm theo (đăng ký xe mô tô và giấy mua bán xe - xe đã qua sử dụng) thu giữ của Trần Anh Ng do liên quan đến hành vi phạm tội. Trả lại cho bị cáo Trần Anh Ng 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi màu trắng số Imei 865298056408580 do không liên quan đến hành vi phạm tội. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cốc nhựa đựng chất lỏng dạng sơn màu đỏ đã bị bóp méo; 01 (một) áo chống nắng dài tay, sáng màu, trên có bám dính tạp chất màu đỏ ở một số vị trí; 01 (một) quần dài, màu xanh đậm, trên quần có bám dính tạp chất màu đỏ ở một số chỗ; 01 (một) mũ bảo hiểm (dạng mũ nửa đầu) màu đen, phía trước có chữ Adidas màu trắng; 01 (một) áo dài tay màu xanh đậm, tay áo có 3 hình sọc trắng; 01 (một) hộp sơn (Hải Phòng) đã bị mở, bên trong có dung dịch dạng sơn màu đỏ do liên quan đến hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng.
[13] Về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật. Bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Anh Ng; căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Minh T và Nguyễn Thị Thu H.
Tuyên bố các bị cáo Trần Anh Ng, Nguyễn Minh T, Nguyễn Thị Thu H đồng phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Xử phạt:
- + Bị cáo Trần Anh Ng 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/3/2024.
- + Bị cáo Nguyễn Minh T 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.
- + Bị cáo Nguyễn Thị Thu H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Minh T và bị cáo Nguyễn Thị Thu H cho Uỷ ban nhân dân phường Th, quận HB, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
“1. Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
2. Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
3. Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
4. Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách”.
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 45, điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với Nguyễn Minh T và Nguyễn Thị Thu H.
- Về xử lý tài sản, vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Smartphone REALME màu xanh có số Imei 1 là 862949053229212, Imei 2 là 862949053229204 thu giữ của Nguyễn Minh T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen có số Imei 1 là 865966046969412, số Imei 2 là 865966046969404 thu giữ của Nguyễn Thị Thu H; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Novou màu trắng Biển kiểm soát 16N2-0414 và các giấy tờ kèm theo (đăng ký xe mô tô và giấy mua bán xe - xe đã qua sử dụng) thu giữ của Trần Anh Ng do liên quan đến hành vi phạm tội. Trả lại cho bị cáo Trần Anh Ng 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi màu trắng số Imei 865298056408580 do không liên quan đến hành vi phạm tội. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cốc nhựa đựng chất lỏng dạng sơn màu đỏ đã bị bóp méo; 01 (một) áo chống nắng dài tay, sáng màu, trên có bám dính tạp chất màu đỏ ở một số vị trí; 01 (một) quần dài, màu xanh đậm, trên quần có bám dính tạp chất màu đỏ ở một số chỗ; 01 (một) mũ bảo hiểm (dạng mũ nửa đầu) màu đen, phía trước có chữ Adidas màu trắng; 01 (một) áo dài tay màu xanh đậm, tay áo có 3 hình sọc trắng; 01 (một) hộp sơn (Hải Phòng) đã bị mở, bên trong có dung dịch dạng sơn màu đỏ do liên quan đến hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng.
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an quận Hồng Bàng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng ngày 08-7-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc Nguyễn Minh T, Nguyễn Thị Thu H, Trần Anh Ng mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Chung |
Bản án số 111/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm (cố ý làm hư hỏng tài sản)
- Số bản án: 111/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý làm hư hỏng tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh T và đồng phạm
