|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 111/2024/HSST Ngày: 23/5/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lưu Triều
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Đô
- Ông Phạm Đình Quốc
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Trang - Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Phan Thiết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Phan Thiết: Ông Hà Văn Thịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2024/HSST ngày 07 tháng 5 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
Nguyễn Thành P; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Nhí, S; Sinh năm 1993 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Không; Cha: Nguyễn Văn T (Đã chết); Mẹ: Huỳnh Thị T1, sinh năm 1958; Anh chị em ruột: có 04 người, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Vợ, con: chưa có; Tiền án: Ngày 16/7/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 84a/2019/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/05/2023; Tiền sự: Không; Bị can bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 22/01/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:
Theo cáo trạng, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 22/01/2024, Nguyễn Thành P dùng điện thoại có gắn sim số 0568.011.xxx gọi vào số điện thoại 0566.451.xxx của 01 đối tượng tên T2 (chưa rõ nhân thân) hỏi mua 2.000.000 đồng ma túy đá thì T2 hẹn P1 đến đường hẻm gần khu vực dốc C thuộc phường Đ, thành phố P để giao ma túy. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, P1 mượn xe mô tô biển số 86B4-435.96 của Lê Tuấn C (sinh năm 2000, trú tại thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận) đi đến chỗ hẹn thì gặp 01 người thanh niên (không rõ nhân thân) đưa cho P1 02 gói nylon chứa ma túy đá (gồm 01 gói lớn và 01 gói nhỏ). Sau khi mua được ma túy, P1 điều khiển xe mô tô 86B4-435.96 đến bãi đất trống gần nhà của P1 ở xã H, huyện H, lấy một ít ma túy trong gói nylon lớn ra sử dụng rồi chia gói nylon này ra thành 02 gói ma túy đá, cất giấu vào trong túi quần phía trước bên phải P1 đang mặc. Gói nylon chứa ma túy đá mua được còn lại, P1 bỏ vào vỏ thuốc lá hiệu Jet, cất vào túi quần phía trước bên trái P1 đang mặc rồi P1 điều khiển xe mô tô 86B4-435.96 đi đến cầu C ở đường T (thuộc khu phố F, phường P, thành phố P) thì dừng xe đi vệ sinh. Lúc này có lực lượng tuần tra của tổ Cảnh sát 113 thuộc Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh B phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố P và Công an phường P đi đến. Do hoảng sợ nên P1 bỏ xe chạy bộ và lấy 02 gói ma túy đá trong túi quần phía trước bên phải ném xuống đường. Khi chạy được 20 mét thì P1 tiếp tục lấy 01 vỏ gói thuốc lá hiệu Jet chứa 01 gói ma túy đá trong túi quần phía trước bên trái ném xuống đường rồi P1 tiếp tục chạy được 15 mét thì bị lực lượng tuần tra bắt giữ, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ những tang vật có liên quan và đưa P1 về trụ sở Công an phường P làm việc.
Quá trình điều tra, P1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên, mục đích tàng trữ ma túy là để sử dụng.
Vật chứng của vụ án:
Thu giữ của Nguyễn Thành P:
- 02 gói nylon không màu, có khóa nhựa kéo một đầu, có kích thước lần lượt khoảng (4x6) cm và (4x7) cm, đều chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M1 khi giám định): thu giữ trên đầu đường sỏi, gần cuối chân cầu C (hướng H đi P).
- 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet, bên trong chứa 01 gói nylon không màu, hàn kín, kích thước khoảng (3x3) cm, chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M2 khi giám định): thu giữ trên đầu đường sỏi, gần trụ gắn bảng hiệu “Cà Phê Bờ Sông” thuộc khu phố F, phường P, thành phố P.
- 01 xe mô tô hiệu Honda loại Winner màu trắng - xanh, biển số 86B4- 43596.
- 01 điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, màu xanh đen, mặt sau điện thoại có in chữ “SAMSUNG”, gắn sim số 0568011297.
Tại Bản kết luận giám định số 136/KL-KTHS ngày 29/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: (bút lục số 34)
- Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 1,0847 gam, là Methamphetamine.
- Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 1,0013 gam, là Methamphetamine.
- Mẫu M3 gửi giám định có khối lượng 1,1517 gam, là Methamphetamine.
- Tổng khối lượng Methamphetamine P2 tàng trữ là 3,2377 gam.
Xử lý vật chứng:
03 gói nylon đã cắt lấy mẫu cùng 0,9932 gam mẫu M1, 0,9073 gam; mẫu M2, 1,0582 gam; mẫu M3 còn lại sau giám định được niêm phong trong 02 phong bì dán giấy NIỀM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 136/1, 136/2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T3 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet; 01 điện thoại di động hiệu Samsung có gắn sim số 0568011297, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết để bảo quản chờ xử lý.
Đối với chiếc xe mô tô hiệu Honda Winner biển số 86B4- 43596 do Lê Tuấn C đứng tên chủ sở hữu. Ngày 22/01/2024, C cho P2 mượn xe mô tô biển số 86B4- 43596 đi công việc nhưng không biết việc P2 tàng trữ ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã trả lại chiếc xe mô tô biển số 86B4- 43596 cho C.
Cáo trạng số 71/CT-VKS ngày 07 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Nguyễn Thành P về tội “Tàng trử trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, giữ quyền công tố đã luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Thành P từ 24 đến 30 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 03 gói nylon đã cắt lấy mẫu cùng 0,9932 gam mẫu M1, 0,9073 gam mẫu M2, 1,0582 gam mẫu M3 còn lại sau giám định được niêm phong trong 02 phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 136/1, 136/2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T3 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet;
- Tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động hiệu S1 có gắn sim số 0568011297
Nói lời sau cùng: Các bị cáo xác định cáo trạng truy tố là đúng, không oan, nên không tranh luận gì, thống nhất với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sựQuá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo và xuất trình các chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Vào khoảng 20 giờ 50 phút ngày 22/01/2024, tại Km1707, Quốc lộ A (đường T) thuộc khu phố F, phường P, thành phố P, Nguyễn Thành P tàng trữ trái phép 3,2377 Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị tổ Cảnh sát 113 thuộc Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh B phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố P và Công an phường P bắt quả tang.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập theo quy định của pháp luật có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời kết luận của đại diện Viện kiểm sát. Do vậy Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Hành vi của Nguyễn Thành P đã cấu thành tội “Tàng trử trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi và hậu quả thấy rằng: Hiện nay trên địa bàn thành phố P, cũng như trên toàn quốc nói chung, tình trạng mua bán, tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đang diễn ra khá phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, vi phạm chế độ độc quyền quản lý chất gây nghiện của nhà nước, làm gia tăng tệ nạn nghiện ma túy và cũng làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần phải tuyên cho bị cáo một hình phạt thật nghiêm và cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tiền án, tiền sự: Bị cáo có nhân thân xấu.
- Về tình tiết tăng nặng: Nguyễn Thành P đã bị kết án, chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý, thuộc trường hợp “Tái phạm”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo. Do đó bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Bộ luật hình sự.
[5] Xét phần hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Xét về vật chứng: 03 gói nylon đã cắt lấy mẫu cùng 0,9932 gam mẫu M1, 0,9073 gam mẫu M2, 1,0582 gam mẫu M3 còn lại sau giám định được niêm phong trong 02 phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 136/1, 136/2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T3 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B, 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet, đây là ma tuý và công cụ cất giữ ma túy, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy, đối với điện thoại di động hiệu Samsung có gắn sim số 0568011297 là công cụ liên hệ mua ma túy nên sung công quỹ, theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Xét đối tượng có liên quan: Đối với đối tượng T2 đã bán ma túy cho P2, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã có Công văn đề nghị Công ty cổ phần V cung cấp thông tin chủ sở hữu đối với số điện thoại 0566.451.xxx mà T2 sử dụng nhưng chưa nhận được văn bản trả lời, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.
[8] Xét về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình; Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
VÌ CÁC LẼ TRÊN;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Nguyễn Thành P phạm tội “Tàng trử trái phép chất ma túy”.
-
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Thành P 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/01/2024.
-
Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 136/1, 136/2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T3 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B và 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet.
-
Tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động hiệu S1 có gắn sim số 0568011297 hiện tại đang được nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 109 ngày 04/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết).
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo P2 phải chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (23/5/2024).
|
Nơi nhận: VKSND tp Phan Thiết VKSND tỉnh Bình Thuận TAND tỉnh Bình Thuận Công an tp Phan Thiết Người tham gia tố tụng UBND địa phương nơi b/c thường trú T4 hành án thành phố Phan Thiết Lưu hồ sơ. |
TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán-Chủ Tọa Phiên Tòa NGUYỄN LƯU TRIỀU |
HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
Nguyễn Văn Đô Phạm Định Q |
Nguyễn Lưu T5 |
Bản án số 111/2024/HSST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 111/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành P Điều 249
