TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG Bản án số: 111/2024/HS-ST Ngày: 22/7/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hòa
2. Ông Luân Văn Lý
Thư ký phiên tòa: Bà Nông Triệu Bảo Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 89/2024/HSST ngày 07 tháng 6 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 169/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đối với bị cáo:
Họ và tên: Triệu Văn L; Tên gọi khác: Triệu Văn L1; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 04/8/1998 tại xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm B, xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán Chỉ; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông: Triệu Văn Q, sinh năm 1971; Lý Thị L2, sinh năm 1975 (cùng trú tại: Xóm K, xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng); Vợ: Phùng Mùi N, sinh năm 1994, trú tại: Xóm B, xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng; Con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng từ ngày 15/02/2024 đến nay; Có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Đinh Thị D – Sinh năm 1986
Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng giữa tháng 5 năm 2022 Triệu Văn L, tên gọi khác: Triệu Văn L1 được Đặng Văn L3 (sinh năm 1980, trú tại xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng) cùng là phụ xây với L tại thành phố C giới thiệu, cho số điện thoại cùng tài khoản Facebook của Đinh Thị D để L làm quen. Sau một thời gian liên lạc, hai người hẹn gặp nhau vào sáng ngày 19/5/2022 rồi đi chơi tại Cao Bằng. Đến sáng ngày 20/5/2022, L và D đi xe mô tô của D về nhà D tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn, khi đi dọc đường có dừng tại 01 (một) cây ATM của ngân hàng A để rút tiền, qua nói chuyện, L biết tờ giấy do ngân hàng cấp bọc bên ngoài thẻ ATM của D có in mật khẩu và được D cất trong túi đeo mà D mang theo. Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 21/5/2022, L và D đến thành phố C và thuê phòng số 09 tại nhà nghỉ M (tổ G, phường Đ, thành phố C), tại đây D đi tắm và để túi ở hộc tủ cạnh tường, L nảy sinh ý định trộm thẻ ATM của D nên đã mở túi lấy thẻ ATM cùng tờ giấy in mật khẩu của ngân hàng được bọc bên ngoài thẻ và cất vào túi quần của L. Đến khoảng 18 giờ 00 phút ngày 21/5/2022, L và D cùng L3 ăn tối tại quán ăn trên P đi bộ K, khi đang ăn, L một mình đi bộ ra cây ATM Agriank (thuộc tổ A, phường H, thành phố C), L lấy thẻ ATM trộm được của D và cho vào cây ATM và nhập mật khẩu in trên tờ giấy thì vào được tài khoản ngân hàng của D, L rút 02 (hai) lần tổng số tiền là 6.000.000₫ (sáu triệu đồng). Sau đó L cất thẻ vào túi quần phía trước còn tiền thì cất vào túi quần phía sau và quay lại quán ăn. Tối cùng ngày tại nhà nghỉ M, khi D đang ngủ Le đặt thẻ ATM đã bọc lại bằng giấy của ngân hàng vào trong túi đeo của D. Đến sáng ngày 22/5/2023, L va D đi xe mô tô đến nhà bố mẹ đẻ của L tại xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng. Di ở lại đến sáng ngày 23/5/2023 thì phát hiện bị mất túi bên trong có thẻ ATM và một số tiền Trung Quốc, L có giúp tìm nhưng không thấy. Đến chiều ngày 23/5/2023, D đến Ngân hàng A chi nhánh thành phố C để kiểm tra và phát hiện L là người đã dùng thẻ ATM của D để rút tiền nên đã hẹn gặp L. Đến khoảng 18 giờ 00 phút ngày 23/5/2022 L4 gặp D tại nhà nghỉ M, L thừa nhận việc trộm 6.000.000₫ (sáu triệu đồng) triệu trong tài khoản của D nhưng không được lấy túi đeo bên trong có tiền Trung Quốc và thẻ ATM của D, nói chuyện xong D bỏ đi, còn L do sợ bị Công an bắt nên đã đi xe khách đến tỉnh Quảng Ninh và xin làm thợ hàn ở thành phố H.
Ngày 24/5/2022, Công an thành phố C tiếp nhận đơn trình báo của Đinh Thị D (Sinh năm 1986, trú tại: xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn) về việc: Ngày 23/5/2022, Đinh Thị D phát hiện bị mất 01 thẻ ATM ngân hàng N1 (A), D tự mình đến làm việc với Ngân hàng A chi nhánh thành phố C thì được biết tài khoản ngân hàng liên kết với thẻ ATM bị mất của D đã bị rút đi số tiền 6.000.000₫ (sáu triệu đồng). Qua việc trích xuất hình ảnh, video từ camera gắn tại cây ATM, D nhận ra Triệu Văn L (Sinh năm: 1998, trú tại: Xóm B, xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng) là người đã thực hiện hành vi rút tiền trong thẻ ATM mà không được sự cho phép của D.
Ngày 30/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã ra quyết định truy tìm người. Kết quả xác minh xác định Triệu Văn L không có mặt tại địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú, không xác định được đang ở đâu. Năm 2023 L đến làm tại xưởng gỗ tại huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Ngày 07/02/2024 L quay về nơi cư trú. Ngày 15/02/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã bắt tạm giữ Le để làm việc và ra quyết định đình tìm. Tại Cơ quan điều tra, Triệu Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của bản thân vào ngày 21/5/2022, lời khai của Le phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được.
Hành vi của Triệu Văn L đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại Cáo trạng số: 100/CT-VKSTP ngày 07/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Triệu Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, bị cáo Triệu Văn L thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố, bị cáo khai nhận được lấy trộm thẻ ATM và rút số tiền 6.000.000đ từ tài khoản liên kết trong thẻ mà D không biết. Bị cáo xác nhận không bị thu giữ tài sản gì khi bị bắt giữ và không có ý kiến gì với các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện.
Bị hại Đinh Thị D vắng mặt tại phiên tòa, tại đơn xin xét xử vắng mặt bà D yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiển 6.000.000 đồng. Về trách nhiệm hình sự, đề nghị xét xử theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Triệu Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo Triệu Văn L từ 6 đến 9 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Không có nên không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho bị hại Đinh Thị D số tiền đã chiếm đoạt là 6.000.000 đồng.
Về án phí: Bị cáo Triệu Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền phải bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật.
Tại phần tranh luận, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về các hành vi và quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh: Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung đơn trình báo, lời khai của bị hại cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Hồi 15 giờ 00 phút ngày 21/5/2022 tại nhà nghỉ M (tổ G, phường Đ, thành phố C), Triệu Văn L đã có hành vi lấy trộm thẻ ATM của Đinh Thị D để rút trộm tiền trong tài khoản ngân hàng liên kết với thẻ. Khoảng hơn 18 giờ cùng ngày, Triệu Văn L đến cây ATM của N1 (A) thuộc tổ A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, Triệu Văn L đã thực hiện hành vi lấy trộm 6.000.000₫ (sáu triệu đồng) của Đinh Thị D nhằm mục đích phục vụ nhu cầu sinh hoạt của bản thân.
Hành vi chiếm đoạt của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu cá nhân. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật. Hành vi của bị cáo Triệu Văn L đã đủ yếu tố cấu thành Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Triệu Văn L là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, bị cáo Triệu Văn L khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4]. Về hình phạt:
Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn liều lĩnh, công khai thực hiện. Điều này cho thấy bị cáo có ý thức coi thường pháp luật nên cần có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Căn cứ vào nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ để răn đe, giáo dục bị cáo sớm trở thành một công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Về xử lý vật chứng: Không có.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Triệu Văn L (Triệu Văn L1) có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho bị hại Đinh Thị D số tiền đã chiếm đoạt là 6.000.000₫ (Sáu triệu đồng).
[7]. Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Triệu Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm với số tiền 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch của số tiền phải bồi thường với số tiền là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Tổng số tiền án phí sơ thẩm bị cáo phải chịu là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước.
[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[9]. Các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Triệu Văn L (Triệu Văn L1) phạm tội Trộm cắp tài sản.
Xử phạt: Bị cáo Triệu Văn L (Triệu Văn L1) 08 tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/02/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 353, Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Buộc bị cáo Triệu Văn L (Triệu Văn L1) có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho bị hại Đinh Thị D số tiền đã chiếm đoạt là 6.000.000đ (Sáu triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Triệu Văn L (Triệu Văn L1) phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch của số tiền phải bồi thường với số tiền là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Tổng số tiền án phí sơ thẩm bị cáo phải chịu là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị hại (vắng mặt tại phiên tòa) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hanh |
Bản án số 111/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 111/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Triệu Văn Lê phạm tội trộm cắp tài sản
