Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƠN TRẠCH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 111/2024/HS-ST.

Ngày: 22-5-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hường.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Thái Minh Trí.

2. Bà Lê Thị Kim Xuyến.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sơn – Kiểm sát viên. Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 110/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Anh L (tên gọi khác: S). Giới tính: Nam.

Sinh ngày 18/6/1988. Tại Đồng Tháp.

Nghề nghiệp: Không.

HKTT: 293A, Đoàn Văn B, Phường A, Quận D, Thành Phố Hồ Chí Minh.

Chỗ ở hiện nay: Ấp P, xã Đ, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn Đ, sinh năm 1940 (chết) và bà Lê Thị H, sinh năm 1948 (còn sống); Bị cáo là con út trong gia đình có 03 anh em; Bị cáo sống chung như vợ chồng với Phan Huy Trúc L1 (sinh năm 1991) từ năm 2006 và có 01 con sinh năm 2008 và sống chung như vợ chồng với Dương Thị Tuyết M (sinh năm 1986).

Tiền án: Ngày 31/5/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị can chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/5/2023.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • + Ngày 31/3/2009, bị Tòa án nhân dân Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, bị cáo chấp hành xong vào ngày 06/11/2009.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/01/2024 và chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện N.

(Bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 10 giờ 00 ngày 23/01/2024, Trần A Luật thuê xe ôm đi từ nhà thuộc ấp P, xã Đ, huyện N, tỉnh Đồng Nai đến khu vực ấp Á, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai gặp một người tên H1 (không rõ nhân thân) mua 500.000 đồng ma túy (loại Hêrôin). Sau khi nhận được ma túy, Luật thuê xe ôm đi về lại nhà tại ấp P, xã Đ, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Khi về đến nhà L lấy một tép ma tuý ra để sử dụng, đến sáng ngày 24/01/2024, Luật tiếp tục lấy một ít ma tuý ra để sử dụng tại nhà, số còn lại Luật cho vào đoạn ống hút rồi hàn kín lại để bán kiếm lời. Đến khoảng 10 giờ 20 phút cùng ngày có người tên T (không rõ nhân thân) ở xã Đ, huyện N đến trước nhà L hỏi mua ma tuý với giá 100.000 đồng, L đồng ý và hẹn T chạy tới bãi đất trống cách nhà Luật khoảng 100m để giao ma tuý cho T. Khoảng 10 phút sau, Luật cầm 01 tép ma tuý trong lòng bàn tay đi bộ đến điểm hẹn để giao ma tuý cho T thì bị Công an xã Đ phát hiện bắt quả tang.

Tại bản kết luận giám định số 220/KL-KTHS ngày 31/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,0291gam, loại: Heroin.

* Vật chứng vụ án: Một đoạn ống hút có kích thước khoảng 01cm, được hàn kín hai đầu, bên trong chứa các chất một màu trắng.

Trước Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tình tiết, vật chứng, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án.

Tại Bản cáo trạng số 123/CT-VKSNT ngày 26/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố bị cáo Trần A Luật về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên có quan điểm giữ nguyên quyết định đã truy tố đối với bị cáo vì nhận thấy bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, đã thực hiện hoàn thành hành vi phạm tội. Bị cáo có tình tiết tăng nặng là phạm tội thuộc trường hợp tái phạm. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Luật mức án từ 03 năm tù giam đến 04 năm tù giam.

Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Toà tuyên:

Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số 220/KL-KTHS ngày 31/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.

Đối với người tên H1 đã bán ma túy cho Trần A Luật và người tên T mua ma túy của Luật, do chưa xác định được nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện N tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Công an huyện N tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng; bị cáo không tranh luận, bào chữa về hành vi của mình; bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm có cơ hội tái hòa nhập cộng đồng và làm lại cuộc đời.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tình tiết, vật chứng, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Anh L khai nhận: Bị cáo bắt đầu sử dụng ma tuý vào năm 2015. Vào lúc 10 giờ 20 phút, ngày 24/01/2024 tại ấp P, xã Đ, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Trần A Luật trên đường đi bán ma túy loại Heroin có khối lượng 0,0291gam cho người tên T (chưa rõ nhân thân) với giá 100.000 đồng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Bản thân bị cáo nhận thức được việc mua bán chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện và tội phạm đã hoàn thành. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần A Luật về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[2] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Xét hành vi của bị cáo: Bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội ở địa phương, gây thiệt hại đến sức khỏe, sự phát triển bình thường của con người do tác hại, mặt trái của ma túy mà bị cáo đều nhận thức được.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có một tiền án chưa được xóa nay lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để bị cáo nhận thức, cải tạo, giáo dục trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội, bên cạnh sự răn đe, phòng ngừa chung của chính sách pháp luật hình sự và sự khoan hồng của Nhà nước.

[3] Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng vụ án:

Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số 220/KL-KTHS ngày 31/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/5/2024 giữa Cơ quan Điều tra Công an huyện N và Cơ quan Thi hành án dân sự huyện N).

[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Vấn đề khác: Đối với người tên H1 đã bán ma túy cho Trần A Luật và người tên T mua ma túy của Luật, do chưa xác định được nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện N tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

[6] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều hợp pháp, đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

* Tuyên bố bị cáo Trần A Luật phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần A Luật 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 24/01/2024.

Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số 220/KL-KTHS ngày 31/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/5/2024 giữa Cơ quan Điều tra Công an huyện N và Cơ quan Thi hành án dân sự huyện N).

Đối với người tên H1 đã bán ma túy cho Trần A Luật và người tên T mua ma túy của Luật, do chưa xác định được nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện N tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Trần A Luật phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND H. Nhơn Trạch;
  • - Công an H. Nhơn Trạch;
  • - Chi cục THADS H. Nhơn Trạch;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 111/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRẦN ANH L mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger