|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH TỈNH HÒA BÌNH Bản án số: 111/2024/HSST Ngày: 21/8/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đà Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Xuân Nguyên
Ông Bùi Thanh Nhiến
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Thái Bình - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 97/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2024/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Chu Văn T, tên gọi khác: không, sinh ngày 30/12/1991 tại tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Xóm Q, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Chu Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1962; Vợ: Đã ly hôn; Con: không có; Gia đình bị cáo có 03 anh em. Bị cáo là con thứ 3 trong gia đình;
Tiền án: Có 01 tiền án: Năm 2021, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xử phạt 24 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (giá trị tài sản trộm cắp là 9.811.000 đồng) theo Bản án số 71/2021/HS-ST ngày 07/12/2021. Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo đã chấp hành xong việc nộp án phí ngày 31/5/2022; chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/6/2023. Bị cáo phạm tội mới ngày 02/9/2023 nên chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không
Nhân thân:
- Năm 2010, bị Ủy ban nhân dân tỉnh H buộc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục theo Quyết định số 114/QĐ-UBND ngày 26/01/2010 thời hạn 24 (hai mươi bốn) tháng. Đã chấp hành xong. Đã được xóa án tích;
- Năm 2013, bị Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình xử phạt 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự theo Bản án số 02/2013/HSST ngày 01/3/2013. Đã được xóa án tích;
- Năm 2014, bị Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình xử phạt 15 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự theo Bản án số 02/2014/HSST ngày 28/02/2014. Đã được xóa án tích;
- Năm 2015, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xử phạt 24 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự (cũ) theo Bản án số 32/2015/HSST ngày 27/8/2015. Đã được xóa án tích.
Bị cáo bị giam giữ từ ngày 02/4/2024 đến nay. Hiện đang đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H, được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Đinh Thị Hồng T2, sinh năm 1989 (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
Trú tại: Tổ H, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình
Người làm chứng:
- Chị Hà Thị L, sinh năm 1990; (Vắng mặt, không có lý do)
Trú tại: Xóm Đ, xã Y, huyện T, tỉnh Phú Thọ;
- Anh Phùng Thế Q, sinh năm 1993; (Vắng mặt, không có lý do)
Trú tại: Tiểu khu M, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình;
- Chị Chu Thị N, sinh năm 1970; (Vắng mặt, không có lý do)
Trú tại: Xóm H, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 7/2023, thông qua mạng xã hội Facebook, Chu Văn T (sinh năm 1991, trú tại: Xóm Q, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình) quen biết với chị Đinh Thị Hồng T2 (sinh năm 1989, trú tại: tổ H, phường T, TP ., tỉnh Hòa Bình); hai người nảy sinh tình cảm cá nhân và nhiều lần quan hệ tình dục với nhau tại nhà T và một số nhà nghỉ trên địa bàn TP . và huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Trong một số lần quan hệ tình dục xong, T đã dùng 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus của bản thân để lén chụp hình ảnh khỏa thân của chị T2 khi đi từ nhà vệ sinh ra và hình ảnh hai người nằm trên giường tại nhà của T mục đích để lưu giữ làm kỷ niệm.
Trong khoảng thời gian từ tháng 7/2023 đến tháng 8/2023, để có tiền tiêu xài cá nhân, T đã nhiều lần hỏi vay tiền của chị T2 với tổng số tiền là 6.000.000 (sáu triệu) đồng, chị T2 đồng ý. Trong đó, chị T2 đã đưa trực tiếp số tiền mặt là 4.000.000 đồng cho T; đồng thời chuyển số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng cho T vào số tài khoản ngân hàng Q1 của chị Hà Thị L (sinh năm 1990, trú tại: xóm Đ, xã Y, huyện T, tỉnh Phú Thọ) là em họ của T, sau đó T nói dối là tiền của bạn chuyển cho mình nên nhờ chị L rút tiền mặt rồi đưa T tiêu xài cá nhân hết.
Đến đầu tháng 9/2023, để có tiền tiêu xài cá nhân, Chu Văn T sử dụng chức năng tự động chuyển từ giọng nói ra thành chữ viết của ứng dụng mạng xã hội Z (do T không biết chữ) thông qua tài khoản "Cái Chết Cho Những Người Hay Hỏi" của bản thân tiếp tục hỏi vay chị T2 số tiền 10.000.000 đồng nhưng chị T2 không đồng ý. Sau đó, T đã liên tục nhắn tin, gọi điện cho chị T2 với nội dung chửi bới, xúc phạm danh dự, đe dọa để buộc chị T2 phải chuyển tiền cho T; nếu chị T2 không chuyển tiền cho T thì T sẽ sử dụng các hình ảnh khỏa thân của chị T2 và hình ảnh thân mật giữa T và chị T2 mà T đã chụp được để phát tán cho người thân, bạn bè của chị T2 biết. Do lo sợ các hình ảnh của mình bị phát tán nên chị T2 đã chuyển tiền vào các tài khoản ngân hàng là người quen của T, sau khi nhận được tiền, T nhờ những người này rút toàn bộ số tiền trên ra tiền mặt và đưa lại cho T. Cụ thể:
Lần thứ nhất: Ngày 02/9/2023, chị T2 sử dụng số tài khoản 60556385 ngân hàng V của bản thân chuyển khoản số tiền là 5.000.000đ (Năm triệu đồng) vào số tài khoản 19070806832013 ngân hàng T4 của bà Chu Thị N (sinh năm 1970, trú tại: xóm H, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình) là cô ruột của T. Sau khi bà N nhận được tiền, T nói dối là tiền của bạn chuyển cho rồi nhờ bà N rút số tiền mặt 5.000.000 (năm triệu) đồng này ra đưa cho T rồi tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ hai: Ngày 11/9/2023, chị T2 tiếp tục sử dụng số tài khoản 60556385 ngân hàng V của bản thân chuyển khoản số tiền là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) vào số tài khoản 19070806832013 ngân hàng T4 của bà Chu Thị N (lý lịch nêu trên). Sau khi nhận được tiền, T nói là tiền của bạn chuyển cho rồi nhờ bà N rút số tiền mặt 2.000.000 đồng sau đó tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ ba đến lần thứ sáu: Trong các ngày từ 06/9/2023 đến 20/9/2023, T đã 04 (bốn) lần yêu cầu chị T2 chuyển cho T đến số tài khoản 3002205083006 ngân hàng A của anh Phùng Thế Q (sinh năm 1993, trú tại: tiểu khu M, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình) là em rể của T. Cụ thể: ngày 06/9/2023, chị T2 chuyển số tiền 5.000.000₫ (năm triệu đồng); ngày 08/9/2023, chị T2 chuyển số tiền 8.000.000₫ (Tám triệu đồng); ngày 15/9/2023, chị T2 chuyển số tiền 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng); ngày 20/9/2023, chị T2 chuyển số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng). Tổng số tiền chị T2 đã chuyển đến số tài khoản của anh Phùng Thế Q trong khoảng thời gian từ ngày 06/9/2023 đến 20/9/2023 là 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng). Toàn bộ số tiền này T nói dối với Q là tiền bạn nhờ chuyển giúp nên đã nhờ Q rút tiền mặt rồi đưa cho T, T đã tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ bảy: Đến cuối tháng 9/2023, chị T2 đề nghị chia tay với T. T ra điều kiện chị T2 phải chuyển cho T số tiền 17.000.000đ (Mười bảy triệu đồng) thì T mới chấm dứt quan hệ và sẽ xóa toàn bộ hình ảnh nhạy cảm của chị T2 mà T đang lưu giữ trong điện thoại cá nhân, chị T2 đồng ý và hẹn sẽ thu xếp lo tiền để chuyển cho T.
Đến tháng 10/2023, do chưa thấy chị T2 chuyển tiền, T đã nhiều lần sử dụng tài khoản Zalo để nhắn tin, gọi điện cho chị T2 với nội dung đe dọa sẽ dùng hình ảnh nhạy cảm của chị T2 để gửi cho người thân, bạn bè của chị T2 nhằm gây sức ép, buộc chị T2 phải chuyển số tiền 17.000.000đ (mười bảy triệu đồng) như trên, chị T2 không đồng ý nên đã chặn toàn bộ liên lạc với T. Thấy bị chặn liên lạc, T đã lập 01 (một) tài khoản Facebook lấy tên "Bùi Thị T3" rồi lấy các hình ảnh cá nhân của chị T3 từ tài khoản Facebook "Thoa Đ" mà chị T3 đang sử dụng để giả mạo, sau đó chủ động kết bạn với các tài khoản Facebook khác là bạn bè của chị T3 (không xác định được cụ thể các tài khoản nào do T đã xóa tài khoản Facebook này) để gửi hình ảnh và chửi bới những người này nhằm gây sức ép buộc chị T3 phải chuyển tiền cho T.
Đến khoảng cuối tháng 3/2024, do không chịu được sức ép nên chị T3 đã bỏ chặn và liên lạc với tài khoản Zalo của T để yêu cầu T xóa hình ảnh nhạy cảm của bản thân. T yêu cầu chị T3 phải gặp mặt và đưa trực tiếp số tiền mặt 17.000.000₫ (Mười bảy triệu đồng) cho T, chị T3 đồng ý.
Ngày 01/4/2024, T hẹn gặp chị T3 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H để nhận tiền; theo hẹn, chị T3 đến địa điểm này nhưng không gặp được T. Cùng ngày, chị T3 đến trụ sở Công an phường T, TP . để trình báo toàn bộ sự việc.
Đến ngày 02/4/2024, căn cứ nội dung trình báo của bị hại và các tài liệu xác minh, điều tra được thu thập, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và thi hành Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Chu Văn T về hành vi Cưỡng đoạt tài sản theo quy định pháp luật.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T đã phối hợp với các ngân hàng để sao kê nội dung các giao dịch nêu trên, đồng thời tiến hành đối chất, trích xuất, sao chụp nội dung tin nhắn giữa bị cáo Chu Văn T và bị hại Đinh Thị Hồng T2. Các tài liệu, chứng cứ được thu thập khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo và bị hại.
Như vậy có đủ căn cứ để xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 02/9/2023 đến ngày 01/4/2024, bị cáo Chu Văn T đã sử dụng thủ đoạn dùng lời lẽ để chửi bới, lăng mạ, xúc phạm chị Đinh Thị Hồng T2 và sử dụng hình ảnh nhạy cảm của chị Đinh Thị Hồng T2 để buộc chị T2 phải chuyển cho T tổng số tiền là 44.000.000 (Bốn mươi bốn triệu) đồng (trong đó thực tế đã chuyển số tiền 27.000.000 (Hai mươi bảy triệu) đồng, còn lại số tiền 17.000.000 (Mười bảy triệu) đồng chị T2 chưa chuyển).
Việc thu giữ tài liệu, vật chứng trong vụ án:
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an T, tỉnh Hòa Bình đã thu giữ vật chứng sau: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, số seri: DX3YX2DBJCM4, số I: 357400092881490, tình trạng đã qua sử dụng thu giữ của Chu Văn T.
Cáo trạng số 99/CT-VKSTP ngày 24/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoà Bình truy tố Chu Văn T về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như quá trình điều tra, truy tố.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và ghi nhận quan điểm tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, cụ thể: Về trách nhiệm hình sự: đề nghị Tòa án xét xử bị cáo Chu Văn T nghiêm minh theo quy định của pháp luật, về trách nhiệm dân sự: Yêu cầu bị cáo Chu Văn T trả lại số tiền 27.000.000 đồng đã cưỡng đoạt của bị hại.
Bị cáo đồng ý về trách nhiệm dân sự nhưng bị cáo nêu quan điểm chưa có tiền. Sau này chấp hành án xong sẽ về đi làm lấy tiền trả cho bị hại. Về hình sự đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh và hình phạt: Đề nghị tuyên bố bị cáo Chu Văn T phạm tội cưỡng đoạt tài sản; Áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Chu Văn T mức án từ 36 (ba mươi sáu) tháng tù đến 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng 584,585,586, 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Chu Văn T phải bồi thường cho bị hại Đinh Thị Hồng T2 số tiền 27.000.000 (Hai mươi bảy triệu) đồng.
- Đề nghị tịch thu sung công 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, số seri: DX3YX2DBJCM4, số I: 357400092881490, tình trạng đã qua sử dụng thu giữ của Chu Văn T;
- Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận: Bị cáo thấy tội danh, mức hình phạt vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đúng nên không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đa biết lỗi sai của mình. Mong Hội đồng xét xử xem xét mức án thấp nhất để bị cáo sớm được về đoàn tụ với gia đình, làm lại cuộ đời. Bị cáo còn mẹ già.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, các nội dung đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này là hợp pháp.
[2] Về hành vi bị cáo đã thực hiện: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại; vật chứng thu được cũng như các tài liệu, chứng cứ đã thu giữ do đó có đủ cơ sở xác định: Chu Văn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã cưỡng đoạt tài sản của chị Đinh Thị Hồng T2 số tiền 44.000.000 (Bốn mươi bốn triệu) đồng bằng phương thức buộc chị T2 chuyển tiền vào các tài khoản của người thân họ hàng của T gồm: chuyển tiền qua tài khoản của bà Chu Thị N số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng (Ngày 02/9/2023) và 2.000.000 (Hai triệu) đồng (Ngày 11/9/2023); chuyển khoản vào tài khoản của Phùng Thế Q (Anh rể của bị cáo) 04 lần tổng số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng (Trong đó ngày 06/9/2023 5.000.000 (năm triệu) đồng, ngày 8/9/2023 là 8.000.000 (tám triệu) đồng, 15/9/2023 là 4.000.000 (Bốn triệu) đồng và ngày 20/9/2023 3.000.000 (Ba triệu) đồng; Đến cuối tháng 9/2023 T yêu cầu chị T2 phải chuyển số tiền 17.000.000 (mười bảy triệu) đồng khi T ra điều kiện để chấm dứt quan hệ tình cảm với chị T2 và xóa toàn bộ hình ảnh nhạy cảm về chị T2 mà T đang lưu giữ trong điện thoại cá nhân. Mặc dù số tiền 17.000.000 (Mười bảy triệu) đồng T chưa nhận được nhưng T đã uy hiếp, đe dọa chị Đinh Thị Hồng H1 nhằm cưỡng đoạt tài sản này, nên T phải chịu trách nhiệm hình sự tổng số tiền là 44.000.000 (Bốn mươi bốn triệu) đồng trong đó bao gồm số tiền đã bao gồm cả số tiền 17.000.000 (Mười bảy triệu) chưa nhận được thực tế. Chu Văn T đã thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản nhiều lần tại thành phố H, tỉnh Hòa Bình, bị chị Đinh Thị Hồng T2 là bị hại trình báo. Hành vi của Chu Văn T đủ yếu tố cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 điều 170 bộ luật hình sự 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã nhiều lần xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản và quan hệ nhân thân của công dân được Nhà nước bảo vệ, làm tổn hại danh dự, nhân phẩm của bị hại. Bị cáo Chu Văn T là người có đầy đủ năng lực pháp luật, nhận thức đầy đủ hành vi, tự ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện cần áp dụng hình phạt tù tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Chu Văn T không chỉ có nhân thân xấu, có 01 tiền án năm 2021 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xử phạt 24 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo Bản án số 71/2021/HS-ST ngày 07/12/2021. Bị cáo chấp hành xong việc nộp án phí ngày 31/5/2022; chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/6/2023 chưa được xóa án tích do vậy lần phạm tội này là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do bị cáo trong tháng 9 năm 2023 đã 07 (bảy) lần thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản nên ngoài áp dụng tình tiết “tái phạm”, bị cáo Chu Văn T còn bị áp dụng tình tiết “phạm tội từ 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét áp dụng đối với bị cáo khi lượng hình.
[4] Về vật chứng vụ án:
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, số seri: DX3YX2DBJCM4, số I: 357400092881490, tình trạng đã qua sử dụng thu giữ của Chu Văn T được chuyển từ kho vật chứng Công an thành phố H đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình là công cụ bị cáo sử dụng lưu trữ hình ảnh và liên lạc bị hại để thực hiện hành vi đe dọa nhằm cưỡng đoạt tài sản, cần tịch thu phát mại sung công.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Chị T2 yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại số tiền bị cáo đã nhận thực tế là 27.000.000 (hai mươi bảy triệu) đồng là có căn cứ theo quy định tại các Điều Điều 584, 585, khoản 1 Điều 586, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự. Vì vậy, cần buộc bị cáo Chu Văn T phải bồi thường thiệt hại cho bị hại Đinh Thị Hồng H1 số tiền bị cáo đã nhận thực tế là 27.000.000 (Hai mươi bảy triệu) đồng.
Đối với số tiền 17.000.000 (Mười bảy triệu) đồng chị T2 chưa giao cho bị cáo nên chị không yêu cầu nhận lại là đảm bảo đúng số tiền thiệt hại thực tế của bị hại theo quy định của pháp luật.
Tại giai đoạn điều tra chị yêu cầu bồi thường danh dự nhân phẩm bị xâm hại nhưng đến giai đoạn chuẩn bị xét xử chị có đơn không yêu cầu số tiền bồi thường danh dự nhân phẩm đối với Chu Văn T nữa. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về vấn đề khác trong vụ án:
Đối với số tiền 6.000.000 (Sáu triệu) đồng chị Đinh Thị Hồng T2 cho Chu Văn T vay là thỏa thuận dân sự tự nguyện giữa chị T2 và T, là quan hệ dân sự độc lập không liên quan đến hành vi cưỡng đoạt tài sản trong vụ án hình sự này. Mặt khác chị T2 tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm đã xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy Tòa án không xem xét giải quyết số tiền vay này trong vụ án.
Đối với những người Chu Văn T nhờ nhận tiền cưỡng đoạt qua tài khoản cá nhân là bà Chu Thị N, ông Phùng Thế Q, qua điều tra khai nhận không biết số tiền Tài nhờ nhận chuyển khoản hộ từ bị hại Đinh Thị Hồng H1 là tiền do T thực hiện hành vi phạm tội mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét trách nhiệm hình sự của những người này trong vụ án.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 điều 170; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự;
- Tuyên bố: Bị cáo Chu Văn T phạm Tội cưỡng đoạt tài sản.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Về trách nhiệm dân sự:
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự; Luật phí và Lệ phí số 97 năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Chu Văn T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.350.000 (Một triệu ba trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Xử phạt bị cáo Chu Văn T 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 02/4/2024.
Tịch thu phát mại sung công 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, số seri: DX3YX2DBJCM4, số I: 357400092881490, tình trạng đã qua sử dụng thu giữ của Chu Văn T.
Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình theo biên bản giao nhận vật chứng số 129/BB/24 ngày 20/8/2024.
Căn cứ khoản 2 Điều 648; Điều 584, 585, khoản 1 Điều 586, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Chu Văn T phải bồi thường thiệt hại cho bị hại Đinh Thị Hồng H1 số tiền là 27.000.000 (Hai mươi bảy triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Đà Giang |
Bản án số 111/2024/HSST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH về hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 111/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 36 tháng tù
