Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2023/HS-ST

Ngày: 21 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trung.

Thẩm phán: Ông Phạm Văn Phấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Mai Xuân Thường.

Ông Hồ Bá Võ.

Ông Nguyễn Hồ Cảnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Kiên - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Phương Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 08 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 92/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 08 năm 2023, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lương Thị T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 12/09/1976 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; giới tính: Nữ; nơi cư trú: xóm H, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn T1 (đã chết) và bà Lương Thị T2 (đã chết); chồng: Chưa có; con: có 1 con sinh năm 2006; tiên án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2022 đến nay. Có mặt.
  2. Họ và tên: Nguyễn Thị L, tên gọi khác: Không, sinh ngày 02/9/1970 huyện Q, tỉnh Nghệ An; giới tính: Nữ; nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân A (đã chết) và bà Hồ Thị T3, sinh năm 1937; có chồng Hoàng Đức T4, sinh năm 1966 và có 02 con; tiên án, tiên sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2022 đến nay. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lương Thị T: Bà Trương Thị N – Luật sư thuộc Công ty TNHH L2, Đoàn Luật sư tỉnh N. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị L: Ông Nguyễn Hữu L1 – Luật sư thuộc Văn phòng L3, Đoàn Luật sư tỉnh N. Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Hoàng Quốc K, sinh năm 1996; trú tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • + Bà Trần Thị H, sinh năm 1967, sinh năm 1967; trú tại: Xóm H, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Trân Văn T5, sinh năm 1985; trú tại: K, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Người chứng kiến: Anh Trân Đình H1, sinh năm 2000; trú tại: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào cuối tháng 5 năm 2022, Lương Thị T đã nhiều lần gọi cho Nguyễn Thị L, T trình bày về tình hình khó khăn sau khi bị lừa tiên bởi bạn bè và đặt vấn đề nhờ L giúp tìm người mua ma tuý để bán kiếm lời còn T đảm nhận tìm nguồn ma túy. Vào ngày 4 tháng 6 năm 2022, L gọi cho T và thỏa thuận mua 01 bánh ma túy Heroine với giá 155.000.000 đồng. T sẽ đưa ma túy giao cho L tại huyện Q và nhận 5.000.000 đồng tiền công.

Ngày 5 tháng 6 năm 2022, do không có tiên trả nợ nên T đã yêu cầu L chuyển khoản trước 2.000.000 đồng. L chuyển từ tài khoản Ngân hàng B số 515110000630409 vào tài khoản NgânAgribank của T số 3614205118644. L sau đó liên hệ người tên H2 (ở tỉnh Quảng Nam không rõ lai lịch địa chỉ quen biết trước đó) để thông báo về việc sắp có ma túy để giao dịch.

Ngày 6 tháng 6 năm 2022, Lương Thị T gọi điện cho một người đàn ông dân tộc Mông ở bản M, xã Q (không rõ lai lịch cụ thể) để mua nợ 01 bánh ma tuý (heroine) với giá 150.000.000 đồng. Sau khi đồng ý, người này đưa 01 bao ma túy (heroine) gói trong bao nylon màu đen đến giấu tại gốc cây bên khe nước, đoạn cua dốc Chuối thuộc xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. T đến để kiểm tra và tìm thấy 01 bánh ma túy Heroine gói trong bao nylon; 01 gói nhỏ ma tuý mà người đàn ông dân tộc Mông hứa cho thêm gồm ma tuý hông phiến, ma tuý đá và một ít Heroine. Sau khi kiểm tra, T đem theo 01 gói ma túy nhỏ và cất giấu tại nhà còn 01 bánh ma tuý Heroine vẫn để lại chỗ cũ. Ngày 7 tháng 6 năm 2022, L gọi điện thúc giục T đưa ma túy xuống huyện Q để giao dịch, nhưng vì bận nên T không đi.

Ngày 8 tháng 6 năm 2022, T điều khiển xe máy BKS: 37F1-212.81 tham dự phiên tòa liên quan đến phân chia tài sản của người nhà tại huyện Q. Trên đường, khi đi qua chỗ cất giấu ma tuý trước đó, T dừng xe, lấy bánh ma tuý (heroine) dắt vào lưng quân và mang theo. Sau khi dự phiên tòa, T ở lại ăn trưa tại thị trấn K, huyện Q rồi đưa ma túy xuống huyện Q. Lúc gân đến thị trấn huyện Q, T cất giấu ma túy bên mương nước cạnh đường và tiếp tục đi chơi.

Khoảng 16 giờ cùng ngày, L gọi cho T và hỏi T đang ở đâu, có cân lên đón không thì T trả lời “Có” mục đính là để L lên đón T, đi phía trước dẫn đường, cảnh giới lực lượng chức năng còn T mang ma tuý theo sau. T quay lại nơi cất giấu, câm bánh ma tuý (Heroine) cất vào lưng quân và mang đi chờ L. L gọi xe taxi của anh Trân Văn T5, theo chỉ dẫn của T đi taxi lên huyện Q, khi L qua thị trấn T, huyện Q khoảng 2km thì gặp nhau.

T thấy xe ô tô 04 chỗ màu trắng chạy đến gân chỗ mình đang đợi rồi quay đâu đi xuống, đồng thời T nhận điện thoại của L nói đi theo xe ô tô màu trắng nên T điều khiển xe máy đi theo sau. Khoảng 19 giờ 50 phút ngày 08/6/2022, tại khu vực dốc M thuộc xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Tổ công tác Phòng Cảnh sát điêu tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N (PC04) phối hợp các lực lượng chức năng tiến hành kiểm tra xe tô nhãn hiệu Hyundai I10, màu trắng, BKS 37A-608.99 và xe môtô 37F1- 212.81 lưu thông hướng huyện N đi huyện D. Quá trình kiểm tra phát hiện Lương Thị T đang cất giấu tại vị trí lưng quân phía trước bụng 01 (một) gói nylon màu đen bên trong chứa khối hình hộp chữ nhật được gói bằng nhiêu lớp nylon trong cùng chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy Heroine). Lương Thị T khai nhận đang đưa số ma túy Heroine từ huyện Q xuống huyện Q để bán cho Nguyễn Thị L. Tiến hành kiểm tra xe xe ôtô, người điêu khiển là Trân Văn T5 (sinh năm 1985, trú tại khối F, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An), người ngồi ở hàng ghế sau là Nguyễn Thị L (sinh năm 1970, trú tại xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An)

Khám xét khẩn cấp nhà Lương Thị T, Cơ quan điều tra phát hiện thu giữ 01 túi nylon màu xanh bên trong chứa nhiêu viên nén màu hồng (nghi là ma túy) và 01 gói nylon màu vàng bên trong có ba gói nylon màu đen gồm 01 gói nylon màu đen chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy) và hai gói nylon màu đen chứa chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy) của T cất dấu nhằm mục đích bán kiếm lời. Khám xét nhà của Nguyễn Thị L tạm giữ số tiên 74.300.000 đồng (Bảy mươi tư triệu ba trăm ngàn đồng); 01 sợi dây chuyên kim loại màu vàng có mặt hình chữ nhật và 01 nhẫn màu vàng

Tại Bản kết luận giám định số 822/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 13/6/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận:

  • Mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M1) thu giữ khi bắt người phạm tội quả tang đối với Lương Thị T, Nguyễn Thị L gửi tới giám định là ma tuý Heroine. Số chất bột màu trắng thu giữ khi bắt người phạm tội quả tang đối với Lương Thị T, Nguyễn Thị L có khối lượng là 338,47g.
  • Mẫu viên nên màu hồng (ký hiệu M2) thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lương Thị T gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine). Số viên nên màu hồng thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lương Thị T có tổng khối lượng là 13,39g.
  • Mẫu chất bột màu trắng (Ký hiệu M3) thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lương Thị T gửi tới giám định là ma tuý (Heroine). Sổ chất bột màu trắng thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lương Thị T có khối lượng là 0,23g.
  • 02 (hai) mẫu chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu M4 và M5) thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lương Thị T6 gửi tới giám định đều là ma tuý (Methamphetamine). Số chất tinh thể màu trắng thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lương Thị T có tổng khối lượng là 0,46g.

Về thu giữ, xử lý vật chứng vụ án:

  • 338,7 gam ma túy (H), đã lấy đi giám định 25,24 gam, còn lại 313,46 gam.
  • 13,85 gam ma túy (Methamphetamine), đã lấy đi giám định 1,49 gam, còn lại 12,36 gam.
  • 01 (Một) xe máy nhãn hiệu YAMAHA FREEGO, màu xám đen xanh, biển kiểm soát 37F1-212.81, xe đã qua sử dụng, thu giữ của Lương Thị T7. - 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31655, màu đen; 01 (Một) điện thoại di động ITEL, màu xám, điện thoại đêu đã qua sử dụng, thu giữ của Lương Thị T6.
  • 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu tím; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh, điện thoại đều đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Thị L.

Vật chứng hiện được bảo quản tại kho vật chứng Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

  • Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI, 110, biển kiểm soát 37A-608. của Trân Văn T5 (sinh năm 1985, trú tại khối F, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An). Xác định anh T5 là lái xe taxi do Nguyễn Thị L thuê, hoàn toàn không biết L thuê chở đi để thực hiện hành vi phạm tội vì vậy Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe cho anh Trân Văn T5.
  • Đối với số tiên 74.300.000 đồng (Bảy mươi tư triệu ba trăm nghìn đồng)01 (Một) sợi sợikim loại màu vàng có mặt hình chữ nhật và 01 (Một) nhẫn kim loại màu vàng thu giữ khi khám xét nhà Nguyễn Thị L: Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của Hoàng Quốc K (sinh năm 1996, trú tại: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, là con đẻ của bị can) nhờ L giữ hộ. Tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Hoàng Quốc K theo quy định.

Quá trình điều tra Lương Thị TNguyễn Thị L đã khai báo về hành vi phạm tội của mình, tuy nhiên còn đổ lỗi cho nhau, T khai L đặt mua 01 bánh ma túy Heroine với giá 155.000.000 đồng (Một trăm năm mươi lăm triệu đồng) giao ma túy cho L tại huyện Q. L khai T đặt vấn đề nhờ L tìm người mua ma túy, T sẽ đưa ma túy xuống huyện Q để bán, L đã liên hệ một người tên H2 ở tỉnh Quảng Nam để giao dịch mua bán ma túy. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất nhưng các bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai

Với nội dung trên, Cáo trạng số 103/CT-VKS-P1 ngày 22/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An quyết định truy tố các bị cáo Lương Thị T theo điểm h khoản 4 Điêu 251 Bộ luật Hình sự và Nguyễn Thị L theo điểm b khoản 4 Điêu 251 Bộ luật Hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung Cáođã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm h khoản 4 Điêu 251; điểm s khoản 1 Điêu 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lương Thị T 20 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 08/6/2022.

Áp dụng điểm b khoản 4 Điêu 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điêu 51; Điêu 58; của Bộ luật HìnhXử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 17 năm - 18 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 08/6/2022.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điêu 46, Điêu 47 Bộ luật HìnhĐiêu 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 313,46 gam ma túy Heroine và 12,36 gam ma tuý Methamphetamine còn lại sau khi giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành;

- 01 (Một) xe máy nhãn hiệu YAMAHA FREEGO, màu xám đen xanh, biển kiểm soát 37F1-212.81, xe đã qua sử dụng, thu giữ của Lương Thị T7; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31655, màu đen thu giữ của Lương Thị T là công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm nên cân tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- Trả lại cho bị cáo Lương Thị T 01 (Một) điện thoại di động ITEL, màu xám, điện thoại đã qua sử dụng, thu giữ của bị cáo Lương Thị T do không liên quan đến hành vi phạm tội.

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung,tím; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia,xanh, điện thoại đều đã qua sử dụng, thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị L là công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm nên cân tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

- Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Lương Thị T: Thống nhất với cáo trạng truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, đê nghị Hội đồng xét xử xem sát giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo là người dân tộc, nhận thức pháp luật hạn chế.

Bị cáo Lương Thị T đồng ý với quan điểm bào chữa của luật sư và không tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.

- Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị L: Thống nhất với cáo trạng truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, đê nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo phạm tội với vai trò thứ yếu.

Bị cáo L không có ý kiến tranh luận.

Luật sư bào chữa cho bị cáo không tranh luận gì thêm.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Vê tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điêu tra, truy tố của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điêu tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyên, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, luật sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, các bị cáo Lương Thị TNguyễn Thị L đêu thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáocủa Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã truy tố. Hội đồng xét xử thấy rằng lời khai của các bị cáo tại phiên tòa mặc dù ban đâu chưa phù hợp với nhau, còn mâu thuẫn nhưng sau đó các bị cáo đã thành khẩn khai báo lại và đã phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra cũng như các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ kết luận:

Do điều kiện kinh tế gặp nhiêu khó khăn, sau khi bàn bạc, trao đổi với Nguyễn Thị L, Lương Thị T mua của một người đàn ông dân tộc Mông (không rõ lai lịch, địa chỉ) 01 bánh ma túy Heroine có khối lượng 338,47 gam với giá 150.000.000 (Một trăm năm mươi triệu) đồng để bán cho Nguyễn Thị L với giá 155.000.000 (Một trăm năm mươi lăm triệu) đồng. Đến khoảng 19 giờ 50 phút ngày 08/6/2022, T mang gói ma túy rồi điều khiển xe máy BKS: 37F1-212.81 đi sau, còn L thuê xe taxi đi trước dò đường hỗ trợ cho T nhằm tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng để đưa ma túy xuống huyện Q, tỉnh Nghệ An giao dịch mua bán. Khi đi đến khu vực dốc M, thuộc xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác Công an tỉnh N phát hiện và bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Lương Thị T mua 01 (Một) gói với khối lượng 338,7 gam Heroine và 13.85 gam Methamphetamine nhắm mục đích bán kiếm lời nên T phải chịu trách nhiệm hình sự đối với khối lượng 338,7 gam Heroine và 13.85 gam Methamphetamine. Vì vậy, Cáocủa Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lương Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hìnhsự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Thị L đã thỏa thuận giúp T để bán ma túy cho người quen nhằm kiếm lời, hưởng tiên chênh lệch và tham gia giúp sức trong quá trình vận chuyển ma túy từ T nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý đối với khối lượng 338,47 gam Heroine. Hành vi cất giấu 0,23 gam Heroine và 13,85 gam ma tuý Methamphetamine để bán là hành vi vượt quá của bị cáo T, bị cáo L không biết không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số ma tuý này. Vì vậy, Cáocủa Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hìnhsự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Xét thấy hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của các bị cáo không những đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội; các bị cáo là người có đây đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, thấy được hậu quả, tác hại của hành vi do mình thực hiện, nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm; các bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, mua bán ma túy với mục đích vụ lợi.

Bị cáo Lương Thị T giữ vai trò chủ mưu, khởi xướng, và là người thực hành, có vai trò cao hơn trong vụ án. T đã tìm đến Nguyễn Thị L để đề xuất việc buôn bán ma túy nhằm trả nợ và kiếm lời. T đã lên kế hoạch, thỏa thuận giữa hai người và tìm nguồn cung cấp ma túy. Bị cáo T thực hiện việc mua ma túy từ người đàn ông dân tộc Mông và vận chuyển ma túy đến nơi giao dịch. Bị cáo Lương Thị T là người có vai trò khởi xướng, chủ mưu và tham gia với vai trò cao hơn trong vụ án này. Bị cáo T cũng phải chịu trách nhiệm hình sự đối với toàn bộ tổng khối lượng gồm 338,7 gam Heroine và 13,85 Methamphetamine.

Trong vụ án này, vai trò của bị cáo Nguyễn Thị L là đồng phạm, người thực hành, giúp sức tích cực cho Lương Thị T. L là người tìm, liên hệ với người người mua ma túy, sau đấy thuê taxi đi phía trước cảnh giới cho T vận chuyển ma tuý. Mặc dù L không có vai trò chủ mưu trong vụ án, nhưng hành vi của bị cáo đóng vai trò quan trọng trong chuỗi hành vi khách quan. Xét về hành vi của các bị cáo thì HĐXX nhận thấy về tính chất và mức độ nguy hiểm thì hành vi của bị cáo Lương Thị t giữ vai trò chính và tổng khối lượng ma tuý mà bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự là 338,7 gam Heronie và 13,85 Methamphetamine nhiêu hơn bị cáo L nên bị cáo Nguyễn Thị L vẫn giữ vai trò thấp hơn trong vụ án này.

Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo T, L khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điêu 51 Bộ luật Hìnhbị cáo L có bố, mẹ đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến thuộc tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hìnhsự.

Xét bị cáo L đồng phạm với vai trò thứ yếu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cân áp dụng Điêu 58 Bộ luật Hìnhxử phạt bị cáo mức hình phạt thấp hơn bị cáo T là phù hợp, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Mặc dù bị cáo T trong quá trình điêu tra khai rằng L đã thỏa thuận mua ma túy từ T và L trả công cho T 5.000.000 đồng. Ngày 6/6/2023 L đã thực hiện việc chuyển khoản tiền công trước để mua ma túy với số tiên là 2.000.000 đồng nhưng quá trình điều tra, người có quyên lợi và nghĩa vụ liên quan chị Trân Thị H có khai rằng trước đây bị cáo T có nợ tiền phí bảo hiểm của chị, ngày 6/6/2022 T đã chuyển khoản lại cho chị số tiền 2.000.000 đồng. Bị cáo L và T tại phiên toà cũng khai là chuyển tiền để trả nợ cho T nên đây chỉ là giao dịch dân sự bình thường, không liên quan tới hành vi phạm tội của các bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo chưa thu lợi bất chính; các bị cáo T và L không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định. Vì vậy miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Lương Thị TNguyễn Thị L.

[5] Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho Lương Thị T và người đàn ông tên H2 đặt mua ma tuý với Nguyễn Thị L, do T và L khai không biết rõ tên tuổi, lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý cùng vụ án.

[6] Về vật chứng:

  • 313,46 gam ma túy Heroine và 12,36 gam ma tuý Methamphetamine còn lại sau khi giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành không có giá trị sử dụng cân tịch thu tiêu hủy;
  • 01 (Một) xe máy nhãn hiệu YAMAHA FREEGO, màu xám đen xanh, biển kiểm soát 37F1-212.81, xe đã qua sử dụng, thu giữ của Lương Thị T7; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31655, màu đen thu giữ của Lương Thị T là công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm nên cân tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • 01 (Một) điện thoại di động ITEL, màu xám, điện thoại đã qua sử dụng, thu giữ của bị cáo Lương Thị T không liên quan đến hành vi phạm tội nên được trả lại.
  • 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu tím; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh, điện thoại đã qua sử dụng, thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị L là công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm nên cân tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ Điểm h khoản 4 Điêu 251; điểm s khoản 1 Điêu 51 của Bộ luật Hình của Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Lương Thị T 20 (hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 08/6/2022.

    Căn cứ Điểm b khoản 4 Điêu 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điêu 51; Điêu 58 của Bộ luật HìnhXử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 17 (mười bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 08/6/2022.

    Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

  2. Vê vật chứng: Áp dụng Điêu 46, Điêu 47 Bộ luật HìnhĐiêu 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • Tịch thu tiêu hủy: 313,46 gam ma túy Heroine và 12,36 gam ma tuý Methamphetamine còn lại sau khi giám định cùng với vỏ bao niêm phong.
    • Tịch thu nộp ngân sách Nhà01 (Một) xe máy nhãn hiệu YAMAHA FREEGO, màu xám đen xanh, biển kiểm soát 37F1-212.81, xe đã qua sử dụng, thu giữ của Lương Thị T7; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31655, màu đen thu giữ của Lương Thị T; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu tím; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh, điện thoại đều đã qua sử dụng, thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị L.
    • Trả lại cho bị cáo Lương Thị T: 01 (Một) điện thoại di động ITEL, màu xám, điện thoại đã qua sử dụng.

      (Đặc điểm, tình trạng các vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 26 tháng 6 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An).

  3. Vê án phí: Căn cứ Điêu 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc các bị cáo Lương Thị TNguyễn Thị L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Các bị cáo được quyên kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyên kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - CQCSĐT CA tỉnh Nghệ An;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THA dân sự tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu Toà hình sự, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quang Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2023/HS-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 111/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lương Thị T và đồng phạm - Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger