|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 111/2025/DS-ST Ngày 30-12-2025 V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Oanh
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đỗ Thị Hoài Mơ
- 2. Bà Vũ Thị Nết
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hiên - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 284/2025/TLST-DS ngày 27 tháng 10 năm 2025 về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2025/QĐXXST-DS ngày 11/12/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị T, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn G, xã L, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Lưu Đình C, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn H, xã L, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ, nguyên đơn là chị Đặng Thị T trình bày:
Chị và anh Lưu Đình C có mối quan hệ tình cảm từ tháng 4 năm 2023. Trong quá trình tìm hiểu nhau thì đến tháng 6 năm 2024 thì chị có thai. Đến tháng 9 năm 2024 chị có về gia đình anh C chung sống cùng anh C và gia đình. Tuy nhiên giữa chị và anh C không đăng ký kết hôn, cũng không tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Chị chung sống cùng gia đình anh C đến tháng 3 năm 2025 thì chuyển về nhà đẻ ở, lý do chị chuyển về nhà đẻ là do anh C không có tình cảm, không quan tâm đến mẹ con chị.
Trong khoảng thời gian yêu đương và tìm hiểu nhau thì anh C đã có rất nhiều lần hỏi vay tiền chị. Do tin tưởng nên chị đã đồng ý cho anh C vay nhiều lần.
- Trong khoảng thời gian từ tháng 3 năm 2024 đến tháng 8 năm 2024 chị đã cho anh C vay bằng hình thức chuyển khoản cho anh C bằng số tài khoản của tôi là 102878581334 mở tại ngân hàng TMCP C1 (V) đến số tài khoản của anh C là 0943765000 mở tại Ngân hàng TMCP Q (MB). Giữa hai bên không lập biên bản vay tiền với nhau. Cụ thể như sau:
- + Ngày 29/3/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 2.000.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 31/3/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 2.000.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 05/4/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 2.000.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 06/4/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 2.000.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 19/4/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 1.000.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 19/5/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 2.000.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 09/6/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 35.000.000 đồng. Anh C nhắn tin hỏi vay chị số tiền này là để đặt cọc mua thùng xe ô tô, tôi còn lưu lại tin nhắn anh C hỏi vay chị.
- + Ngày 11/6/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 57.000.000 đồng. Anh C vay chị số tiền này là để mua thùng xe tải để làm ăn vì thùng xe xe cũ của anh C bị hỏng và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 17/6/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 5.000.000 đồng. Anh C nói vay tiền chị để thay dầu xe ô tô và cũng không hẹn khi nào trả tiền cho chị.
- + Ngày 26/6/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 200.000.000 đồng. Anh C hỏi vay chị số tiền này là để mua ô tô tải để làm ăn, chở hàng và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 02/7/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 10.000.000 đồng. Lần này anh C nói cho anh C vay để đi đường chi tiêu vì anh C vào tận tỉnh Đắc Lắc để tìm mua xe (có tin nhắn vay tiền).
- + Ngày 11/7/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 7.000.000 đồng. Số tiền này anh C vay cũng để chi phí đi đường mua xe.
- + Ngày 11/7/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 2.000.000 đồng. Số tiền này anh C vay cũng để chi phí đi đường mua xe.
- + Ngày 12/7/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 2.000.000 đồng. Số tiền này anh C vay cũng để chi phí đi đường mua xe.
- + Ngày 13/7/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 100.000.000 đồng. Số tiền này anh C vay chị để mua xe, thời điểm này anh C đã tìm được xe để mua nhưng anh C nói thiếu 100.000.000 đồng và có hỏi vay thêm chị để mua xe.
- + Ngày 21/7/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 4.000.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 28/7/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 1.000.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 17/8/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 1.000.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 18/8/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 6.000.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 23/8/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 3.000.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 31/8/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 2.500.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
=> Tổng cộng số tiền chị chuyển khoản cho anh C vay qua số tài khoản của chị là 102878581334 mở tại ngân hàng TMCP C1 đến số tài khoản của anh C là 0943765000 mở tại Ngân hàng TMCP Q là 446.500.000 đồng.
Còn rất nhiều mã chị chuyển cho anh C vay 100.000 đồng, 200.000 đồng, 500.000 đồng nữa nhưng chị tự nguyện rút yêu cầu đối với những mã này, chị không yêu cầu anh C phải trả cho chị.
- Trong khoảng thời gian từ ngày 08/10/2024 đến ngày 16/10/ 2024 chị đã cho anh C vay bằng hình thức chuyển khoản cho anh C bằng số tài khoản của chị là 99930121992 mở tại ngân hàng Q đến số tài khoản của anh C là 0943765000 mở tại Ngân hàng TMCP Q. Giữa hai bên không lập biên bản vay tiền với nhau. Cụ thể như sau:
- + Ngày 08/10/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 1.000.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 10/10/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 5.000.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 11/10/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 2.000.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 16/10/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 1.730.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 16/10/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 1.000.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
=> Tổng cộng số tiền chị chuyển khoản cho anh C vay qua số tài khoản của chị là 99930121992 mở tại ngân hàng Q đến số tài khoản của anh C là 0943765000 mở tại Ngân hàng TMCP Q là 10.750.000 đồng.
Tổng cộng số tiền chị yêu cầu anh C phải trả cho chị là 457.250.000 đồng. Chị đã nhiều lần yêu cầu anh C phải trả tiền cho chị nhưng anh C cố tình không trả cho chị. Hiện nay anh C đang làm nghề lái xe, chở hàng và vẫn thường xuyên ở nhà nhưng anh C không đồng ý gặp chị để thỏa thuận với nhau.
Ngoài ra, chị Đặng Thị T không có yêu cầu nào khác.
* Tại biên bản lấy lời khai bị đơn là anh Lưu Đình C trình bày:
Anh và chị Đặng Thị T có mối quan hệ tình cảm từ tháng 4 năm 2023. Trong quá trình tìm hiểu nhau thì đến tháng 6 năm 2024 thì chị T có thai. Đến tháng 9 năm 2024 chị T có về gia đình anh chung sống cùng anh và gia đình. Tuy nhiên giữa anh và chị T không đăng ký kết hôn, cũng không tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Anh chung sống cùng gia đình anh đến tháng 3 năm 2025 thì chị Thuyên chuyển về nhà đẻ ở, lý do là khi đó chị T mới sinh con được 2 tháng thì có về nhà đẻ ở, từ đó chị T không quay về chung sống cùng anh nữa.
Đối với yêu cầu khởi kiện của chị T thì anh có ý kiến như sau: Trong khoảng thời gian từ tháng 3 năm 2024 đến tháng 10 năm 2024 anh có hỏi vay chị T nhiều lần tiền, những lần này chị T đều chuyển khoản cho anh mà không viết giấy tờ biên nhận gì. Mục đích anh hỏi vay chị T tiền là để làm ăn. Tuy nhiên, do thời gian đã lâu nên anh không nhớ cụ thể từng lần vay là bao nhiêu và không nhớ tổng số tiền anh vay là bao nhiêu và anh cũng nhiều lần trả tiền được cho chị T nhưng anh cũng không nhớ.
Chị T yêu cầu anh trả số tiền là 457.250.000 đồng thì anh không đồng ý. Anh chỉ đồng ý trả chị T số tiền là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng). Hiện nay do anh đi làm nên không có trả đủ luôn 300.000.000 đồng mà anh đề nghị được trả dần, mỗi tháng anh trả chị T 5.000.000 đồng đến khi trả hết 300.000.000 đồng.
Ngoài ra, anh Lưu Đình C không còn ý kiến nào khác.
- Ngày 10 tháng 12 năm 2025, Tòa án tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Lưu Đình C vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
- Ngày 11 tháng 12 năm 2025, chị Đặng Thị T có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc anh Lưu Đình C phải cho chị T số tiền nợ gốc 168.030.000 đồng.
- Ngày 30 tháng 12 năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh mở phiên tòa, chị Đặng Thị T và anh Lưu Đình C có đơn xin xét xử vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh đề nghị xét xử vắng mặt chị T và anh C nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên toà hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, nên đề nghị HĐXX xét xử vụ án theo thủ tục chung.
- + Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử Căn cứ Các Điều 463, khoản 1 Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 150, Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; để xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị T, buộc anh Lưu Đình C phải trả cho chị Đặng Thị T số tiền nợ gốc là 300.000.000 đồng.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị T về việc buộc anh Lưu Đình C phải trả cho chị Đặng Thị T số tiền nợ gốc 168.030.000 đồng.
Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án để: Buộc anh Lưu Đình C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, trả lại chị Đặng Thị T tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau nghe khi ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Về thủ tục tố tụng:
- [1.1] Sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn là chị Đặng Thị T và bị đơn là anh Lưu Đình C có đơn xin xét xử vắng mặt; căn cứ vào Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
- [1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Lưu Đình C có địa chỉ cư trú tại xã L, tỉnh Bắc Ninh nên căn cứ vào Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh.
- [1.3] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện, trong khoảng thời gian từ tháng 3 năm 2024 đến tháng 10 năm 2024, chị Đặng Thị T có cho anh Lưu Đình C vay tổng số tiền nợ gốc là 468.030.000 đồng, khi vay hai bên không lập biên bản, không thỏa thuận với nhau về lãi suất và thời hạn vay. Vì vậy, tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự.
- [2] Về nội dung:
Trong khoảng thời gian từ tháng 3 năm 2024 đến tháng 10 năm 2024, chị Đặng Thị T có cho anh Lưu Đình C vay nhiều lần tiền, cụ thể như sau:
- + Ngày 29/3/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 2.000.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 31/3/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 2.000.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 05/4/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 2.000.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 06/4/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 2.000.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 19/4/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 1.000.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 19/5/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 2.000.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 09/6/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 35.000.000 đồng. Anh C nhắn tin hỏi vay chị số tiền này là để đặt cọc mua thùng xe ô tô, tôi còn lưu lại tin nhắn anh C hỏi vay chị.
- + Ngày 11/6/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 57.000.000 đồng. Anh C vay chị số tiền này là để mua thùng xe tải để làm ăn vì thùng xe xe cũ của anh C bị hỏng và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 17/6/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 5.000.000 đồng. Anh C nói vay tiền chị để thay dầu xe ô tô và cũng không hẹn khi nào trả tiền cho chị.
- + Ngày 26/6/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 200.000.000 đồng. Anh C hỏi vay chị số tiền này là để mua ô tô tải để làm ăn, chở hàng và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 02/7/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 10.000.000 đồng. Lần này anh C nói cho anh C vay để đi đường chi tiêu vì anh C vào tận tỉnh Đắc Lắc để tìm mua xe (có tin nhắn vay tiền).
- + Ngày 11/7/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 7.000.000 đồng. Số tiền này anh C vay cũng để chi phí đi đường mua xe.
- + Ngày 11/7/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 2.000.000 đồng. Số tiền này anh C vay cũng để chi phí đi đường mua xe.
- + Ngày 12/7/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 2.000.000 đồng. Số tiền này anh C vay cũng để chi phí đi đường mua xe.
- + Ngày 13/7/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 100.000.000 đồng. Số tiền này anh C vay chị để mua xe, thời điểm này anh C đã tìm được xe để mua nhưng anh C nói thiếu 100.000.000 đồng và có hỏi vay thêm chị để mua xe.
- + Ngày 21/7/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 4.000.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 28/7/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 1.000.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 17/8/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 1.000.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 18/8/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 6.000.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 23/8/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 3.000.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 31/8/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 2.500.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 08/10/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 1.000.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 10/10/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 5.000.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 11/10/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 2.000.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 16/10/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 1.730.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
- + Ngày 16/10/2024: Chị chuyển khoản cho anh C vay số tiền 1.000.000 đồng. Chị không nhớ anh C vay để làm gì và không hẹn thời gian trả.
Còn rất nhiều mã chị chuyển cho anh C vay 100.000 đồng, 200.000 đồng, 500.000 đồng nữa nhưng chị tự nguyện rút yêu cầu đối với những mã này, chị không yêu cầu anh C phải trả cho chị.
- Ngày 11 tháng 12 năm 2025, chị Đặng Thị T có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc anh Lưu Đình C phải cho chị T số tiền nợ gốc 168.030.000 đồng.
Nay, chị T đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh C phải trả cho chị T tổng số tiền nợ gốc là 300.000.000 đồng.
- [2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị T về việc buộc anh Lưu Đình C phải trả cho chị T số tiền nợ gốc là 300.000.000 đồng thì thấy:
- Trong khoảng thời gian từ tháng 3 năm 2024 đến tháng 10 năm 2024, chị Đặng Thị T có cho anh Lưu Đình C vay nhiều lần tiền, tổng số tiền chị T cho anh C vay là 468.030.000 đồng. Tất cả những lần cho anh C vay thì chị T đều chuyển khoản sang tài khoản cá nhân của anh C. Chị T và anh C không lập biên bản, không thỏa thuận lãi suất và thời hạn vay.
Nay, chị T tự nguyện chỉ yêu cầu anh C phải trả cho chị T số tiền nợ gốc là 300.000.000 đồng.
- Anh Lưu Đình C thừa nhận có vay tiền của chị T, anh C không nhớ cụ thể vay bao nhiêu nhưng khi vay giữa hai bên không lập biên bản, không thỏa thuận thời hạn vay và lãi suất, khi vay thì chị Thuyên chuyển K cho anh vào tài khoản cá nhân của anh. Nay anh đồng ý trả chị T số tiền nợ gốc là 300.000.000 đồng.
Từ những phân tích nêu trên, HĐXX có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Đặng Thị T đối với anh Lưu Đình C. Buộc anh Lưu Đình C có trách nhiệm trả cho chị Đặng Thị T tổng số tiền nợ gốc là 300.000.000 đồng là phù hợp với Điều 463 của Bộ luật dân sự.
- [2.2] Về số tiền nợ gốc 168.030.000 đồng:
Theo đơn khởi kiện, chị Đặng Thị T có đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh Lưu Đình C phải trả cho chị T tổng số tiền là 468.030.000 đồng. Tuy nhiên, ngày 11 tháng 12 năm 2025, chị Đặng Thị T có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc anh Lưu Đình C phải cho chị T số tiền nợ gốc 168.030.000 đồng.
Xét thấy: Việc chị T rút một phần yêu cầu khởi kiện là không yêu cầu anh C phải trả cho chị số tiền nợ gốc 168.030.000 đồng là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Vì vậy, Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị T về việc buộc anh Lưu Đình C phải cho chị T số tiền nợ gốc 168.030.000 đồng.
- [2.3] Về lãi suất:
Quá trình giải quyết, chị T tự nguyên không yêu cầu anh Lưu Đình C phải trả cho chị tiền lãi suất nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [3] Về án phí:
Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Do yêu cầu của chị Đặng Thị T được chấp nhận, nên anh Lưu Đình C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 15.000.000 đồng. Trả lại chị Đặng Thị T tạm ứng án phí dân sự đã nộp.
- [4] Về quyền kháng cáo:
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng: Các Điều 463, 464, 465, khoản 1 Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 150, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
-
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị T, buộc anh Lưu Đình C phải trả cho chị Đặng Thị T tổng số tiền là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng).
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị T về việc buộc anh Lưu Đình C phải trả cho chị Đặng Thị T số tiền là 168.030.000 đồng.
- Về án phí: Anh Lưu Đình C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 15.000.000 đồng. Trả lại chị Đặng Thị T số tiền 11.360.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002484 ngày 27/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Ngọc O |
Bản án số 111/2025/DS-ST ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 111/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Đặng Thị T khởi kiện anh Lưu Đình C
