|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- HẢI PHÒNG Bản án số: 111/2025/HS-ST Ngày 02-12-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Ngọc Hải
Bà Phạm Thị Kim Thu
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Minh Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3- Hải Phòng
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3-Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diệu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3-Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 97/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Đình T, sinh năm 1990 tại Phú Thọ. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình M và bà Nguyễn Thị H; có vợ là Nguyễn Thị T1 (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 05/9/2025; tạm giam ngày 08/9/2025; có mặt.
- Bị hại: Chị Trần Thị T2, sinh năm 1983; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Vũ Văn H1, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn C, xã Q, thành phố Hà Nội; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Thế A, sinh năm 1991; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường H, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do quen biết với nhau qua mạng xã hội Facebook, sáng ngày 03/8/2025, Trần Đình T và chị Trần Thị T2, sinh năm 1983; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường A, thành phố Hải Phòng gặp nhau và thuê phòng 302, nhà nghỉ N; địa chỉ: số A đường H, phường H, thành phố Hải Phòng để nói chuyện và quan hệ tình cảm, sau đó chị T2 ra về. Đến khoảng hơn 15 giờ cùng ngày, chị T2 quay lại nhà nghỉ trên để gặp T. Khi đến nhà nghỉ, chị T2 dựng xe mô tô Honda Vision, màu xanh nâu bạc, biển kiểm soát 15C1-421.44 ở dưới sảnh tầng 1 rồi lên phòng 302 gặp T trong phòng nghỉ, chị T2 để chìa khóa xe mô tô ở bàn uống nước rồi sau đó xuống tầng 1 có việc cá nhân. Thấy chìa khóa xe mô tô của chị T2 vẫn để trên bàn nên T nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe môtô của chị T2, bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. T dậy mặc quần áo rồi lấy chìa khóa xe mô tô đi xuống tầng 1 nhà nghỉ N thì gặp chị T2 ở khu vực cầu thang nên giả vờ hỏi chị T2 uống nước gì để T đi lấy. Sau đó T đi thẳng xuống tầng 1, bấm thử chìa khoá thấy chiếc xe nhấp nháy đèn, xác định đúng là xe của chị T2, T dắt xe ra phía cửa nhà nghỉ rồi nổ máy, điều khiển xe đi theo đường Quốc lộ 5 cũ về Hà Nội. Trên đường đi, T mở cốp xe kiểm tra thấy có 01 căn cước công dân, 01 chứng minh nhân dân, 01 đăng ký xe biển số 15C1- 421.44 đều mang tên Trần Thị T2 và số tiền 53.000 đồng. T sử dụng 53.000 đồng để đổ xăng và giữ lại toàn bộ giấy tờ nêu trên. Sau đó, T sử dụng tài khoản Facebook “Trần Huy” đăng bán chiếc xe trên mạng xã hội, ngày 23/8/2025, T đã bán xe môtô cùng giấy đăng ký xe của chị T2 cho anh Vũ Văn H1, sinh năm 1988, nơi thường trú: thôn C, xã Q, thành phố Hà Nội được 17.500.000 đồng và tiêu sài cá nhân hết. Ngày 29/8/2025, anh H1 tiếp tục bán chiếc xe môtô cùng đăng ký xe trên cho anh Nguyễn Thế A (sinh năm: 1991, nơi thường trú: Tổ dân phố Đ, phường H, thành phố Hải Phòng) với giá 20.200.000 đồng. Ngày 04/9/2025 chị T2 đã có đơn trình báo Công an phường H về việc bị trộm cắp chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 15C1- 421.44. Ngày 05/9/2025 anh Thế A đã giao nộp xe mô tô và đăng ký xe cho Cơ quan cảnh sát điều tra. Ngày 05/9/2025, Trần Đình T đến Công an phường H đầu thú khai nhận hành vi trộm cắp tài sản và giao nộp: 01 (một) Chứng minh nhân dân số: [...], cấp ngày 22/4/2015; 01 (một) căn cước công dân số: [...], cấp ngày 10/8/2021.
Kết luận định giá tài sản số 107/KL-HDĐGTS ngày 08/09/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hải Phòng: “Xe môtô nhãn hiệu Honda, số loại: Vision; màu sơn: Xanh N, biển kiểm soát: 15C1- 421.44; số khung: RLHF5830LY537858; số máy: JF86E0443623 tại thời điểm bị chiếm đoạt vào ngày 03/08/2025 có giá trị là 24.433.000 đồng (Bằng chữ: Hai mươi tư triệu bốn trăm ba mươi ba nghìn đồng)”.
Ngày 21/10/2025, Cơ quan CSĐT Công an thành phố H đã trả lại: 01 (một) Chứng minh nhân dân số: [...], cấp ngày 22/4/2015; 01 (một) căn cước công dân số: [...], cấp ngày 10/8/2021; 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn: Xanh nâu bạc, biển số: 15C1 421.44 đã qua sử dụng, 01 đăng ký xe mô tô số 037454 (biển số đăng ký 15C1 421.44) đã qua sử dụng cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Trần Thị T2.
Bị hại chị Trần Thị T2 đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu, đề nghị gì khác về dân sự. Anh Vũ Văn H1 đã trả lại anh Nguyễn Thế A 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng), anh Thế A không yêu cầu anh H1 phải bồi thường thêm. Anh Vũ Văn H1 yêu cầu bị cáo Trần Đình T trả lại số tiền 17.500.000 đồng (Mười bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
Tại Cơ quan điều tra, Trần Đình T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Bản cáo trạng số 30/CT-VKSKV3 ngày 12/11/2025, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3-Hải Phòng đã truy tố bị cáo Trần Đình T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận như nội dung trên và đồng ý bồi thường cho anh H1 số tiền 17.500.000 đồng.
Tại phiên tòa anh Nguyễn Thế A khai nhận: Khi Cơ quan công an cho biết chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 15C1-421.44, số loại: Vision anh mua là xe do phạm tội mà có thì anh đã giao nộp ngay cho Cơ quan công an để điều tra, anh đã được Vũ Văn H1 bồi thường số tiền 15.000.000 đồng, nay anh không có yêu cầu H1 phải bồi thường cho anh.
Tại phiên tòa, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Vũ Văn H1 vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt và anh đề nghị bị cáo phải bồi thường cho anh 17.500.000 đồng.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Trần Đình T mức án từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản.
Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Thị T2 đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì, anh Nguyễn Thế A cũng không yêu cầu bồi thường gì nên không đề nghị HĐXX xem xét. Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Vũ Văn H1 17.500.000 đồng.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Đình T phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3-Hải Phòng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Vào khoảng hơn 15 giờ ngày 03/8/2025 Trần Đình T có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 xe mô tô nhãn hiện Honda Vision, biển kiểm soát 15C1-421.44, trị giá 24.433.000 đồng (hai mươi tư triệu bốn trăm ba mươi ba nghìn đồng) và số tiền 53.000 đồng (năm mươi ba nghìn đồng) trong cốp xe của chị Trần Thị T2 tại nhà nghỉ N, địa chỉ: Số A đường H, phường H, thành phố Hải Phòng nên đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội.
[4 ] Về nhân thân tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngày 05/9/2025 bị cáo đã ra đầu thú và bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy cần áp dụng mức hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[6] Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Thị T2 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì nên HĐXX không xem xét.
[8] Anh Vũ Văn H1 là người đã mua chiếc xe nhãn hiệu Honda Vision do bị cáo chiếm đoạt của chị T2 với giá 17.500.000 đồng, sau đó anh H1 bán lại cho anh Nguyễn Thế A với giá 20.200.000 đồng. Anh H1 đã trả lại anh Thế A số tiền 15.000.000 đồng, anh Thế A không yêu cầu anh H1 phải bồi thường thêm. Nay anh H1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh số tiền 17.500.000 đồng. Xét việc yêu cầu của anh H1 là phù hợp với quy định của pháp luật nên buộc bị cáo phải bồi thường cho anh H1 số tiền 17.500.000 đồng.
[9] Đối với Vũ Văn H1 và Nguyễn Thế A đều không biết chiếc xe Honda Vision, biển kiểm soát 15C1-421.44 là tài sản do bị cáo Trần Đình T phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H không xử lý, HĐXX không xét.
[10] Về án phí: Bị cáo Trần Đình T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Đình T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 05 tháng 09 năm 2025.
Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 589 Bộ luật Dân sự;
Buộc bị cáo Trần Đình T phải bồi thường cho anh Vũ Văn H1 17.500.000 đồng (mười bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (anh Vũ Văn H1) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Đình T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước và 875.000 đồng (tám trăm bảy lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Vũ Văn H1 vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nguyễn Thế A được quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Hồng |
Bản án số 111/2025/HS-ST ngày 02/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 111/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Đình Th phạm tội Trộm căp tài sản
