|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 111/2025/HS-ST Ngày 14 - 4 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mai.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bạn và ông Nguyễn Công Chính
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Lệ Thủy - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 14/4/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 98/2025/HSST, ngày 19 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2025/QĐXXST-HS, ngày 31/3/2025 đối với bị cáo:
Trần Tiến C; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 14 tháng 02 năm 1985; Tại: Tỉnh Đắk Lắk.
Nơi cư trú: Thôn B, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12.
Con ông: Trần Tiến T (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị T1, bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền sự: Không.
Tiền án: 01 tiền án.
Ngày 16 tháng 8 năm 2022, bị Toà án nhân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, (tại Bản án số 232/2022/HS-ST), ngày 29 tháng 4 năm 2023 chấp hành xong bản án, chưa được xóa án tích.
Nhân thân:
Ngày 27 tháng 12 năm 2007, bị Toà án nhân huyện C, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 20 tháng 02 năm 2008, chấp hành xong hình phạt tù.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố B - Phòng PC11, từ ngày 10 tháng 12 năm 2024 cho đến nay - Có mặt
Bị hại:
-
Ông Y Põ H
Địa chỉ: Buôn H, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; (Vắng mặt)
-
Ông Nguyễn Anh Q
-
Bà Phạm Phương H, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; (Có mặt)
-
Bà Phạm Thu H4
Địa chỉ: Phố N, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; (Vắng mặt)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
-
Ông Trần Thọ Đ
Địa chỉ: Số C, thôn T, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; (Vắng mặt)
-
Bà Trần Thị H1
Địa chỉ: G L, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ ngày 16 tháng 11 năm 2024 đến ngày 10 tháng 12 năm 2024, bị cáo Trần Tiến C đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản của người khác trên địa bàn thành phố B, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào ngày 16 tháng 11 năm 2024, Trần Tiến C đi đến Bệnh viện T2 tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Khi đi vào khu vực phòng bệnh A.2.9, tại tầng 2 thuộc Khoa Nội, C thấy có chị H Nốt Buôn Yã, đang ngủ trên giường sát cửa chính, có để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, kiểu máy A83, số IMEI: 867469033890939, màu đen, trên đầu giường, còn anh Y Pò H3 cùng 01 cháu bé đang ngủ ở giường đối diện. Lúc này, thấy mọi người đang ngủ say, nên C đã đi đến lấy trộm chiếc điện thoại trên bỏ vào túi quần rồi mang về nhà. Ngày hôm sau, C mang đi bán nhưng không bán được nên đã để lại sử dụng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐGTS ngày 10 tháng 02 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, kiểu máy A83, màu đen, dung lượng 128GB, số IMEI: 867469033890939, bị nứt ở phía trên màn hình điện thoại, đã qua sử dụng (tài sản thu hồi được) vào tháng 12/2024, trị giá 150.000 đồng.
Vụ thứ hai: Vào ngày 06 tháng 12 năm 2024, Trần Tiến C đi đến Bệnh viện T2 tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Lúc này, C đi đến Tầng trệt, khu C, rồi đi vào Phòng giao ban thì nhìn thấy có ông Nguyễn Anh Q đang nằm ngủ gần bảng hoạt động chuyên môn và có để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 12, màu vàng đồng, dung lượng 128GB, số IMEI: 356403870383375 ở phía bên trái đầu. Thấy anh Q đang ngủ say nên C đã đi đến lấy trộm chiếc điện thoại trên bỏ vào túi quần rồi mang về nhà. Đến sáng 07 tháng 12 năm 2024, C mang đi bán tại 01 cửa hàng cầm đồ nằm trên đường L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (chưa xác định được địa chỉ), với giá 3.000.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐGTS ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 12 Pro, màu vàng đồng, dung lượng 128GB, số IMEI: 356403870383375, đã qua sử dụng (tài sản không thu hồi được), vào ngày 06 tháng 12 năm 2024 có trị giá 6.800.000 đồng.
Vụ thứ ba: Vào ngày 09 tháng 12 năm 2024, Trần Tiến C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Lead, màu sữa, biển kiểm soát 47H1-409.87 chở ông Trần Thọ Đ đi nhậu tại buôn K, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Đến khoảng 02 giờ ngày 10 tháng 12 năm 2024, sau khi nhậu xong, C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47H1-409.87 chở anh Đ đi về. Trên đường đi, C nói với anh Đ đi đến Bệnh viện T2 có việc. Khi đến trước cổng Bệnh viện T2, C nói anh Đ ngồi ngoài quán nước đợi, rồi C một mình đi vào trong Bệnh viện với mục đích tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Lúc này, C đi vào khu vực chờ dành cho người nhà bệnh nhân tại Tầng trệt, khu B của Bệnh viện. Tại đây, C thấy có nhiều người đang nằm ngủ, trong đó có chị Phạm Thu H4 có để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu xanh, gắn 01 ốp điện thoại dạng ví, màu nâu đen, trên sàn. Thấy chị H4 và những người khác đều ngủ say nên C đi đến lấy trộm chiếc điện thoại trên bỏ vào túi quần rồi theo hướng hành lang của Bệnh viện đi ra phía cổng. Khi ra đến cổng thì C bị nhân viên bảo vệ của Bệnh viện yêu cầu đứng lại và Tổ công tác của Công an phường T, thành phố B đến kiểm tra và đưa C về trụ sở Công an phường T để làm việc.
Tại Kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐGTS ngày 10 tháng 02 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận:01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13 Pro Max, màu xanh, dung lượng 128GB, số IMEI: 358406643271650, đã qua sử dụng (tài sản thu hồi được), vào ngày 10 tháng 12 năm 2024, trị giá 10.500.000 đồng và 01 ốp điện thoại dạng ví, màu nâu, đen, kích thước (16 x 18 x 01)cm, đã qua sử dụng (tài sản thu hồi được), vào ngày 10 tháng 12 năm 2024, trị giá 80.000 đồng. Tổng cộng 10.580.000đồng.
Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13 Promax, màu xanh, dung lượng 128GB, số IMEI: 358406643271650, gắn 01 ốp da dạng ví, kích thước (16x18x01)cm, màu nâu đen, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen, kiểu máy A83, dung lượng 128 Gb, số IMEI: 867469033890939, bị nứt phía trên màn hình điện thoại, đã qua sử dụng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu sữa, biển kiểm soát 47H1-409.87.
Tại bản Cáo trạng số: 108/CT-VKS-BMT, ngày 18/3/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Trần Tiến C, về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và nội dung bản cáo trạng.
Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Tiến C, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51; các điểm g,h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Tiến C từ 01 năm 06 tháng - 02 năm tù.
* Về vật chứng:
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc điện thoại Iphone 13 Pro Max gắn 01 ốp điện thoại dạng ví, màu nâu đen cho chị Phạm Thị Thu H4 nhận quản lý, sử dụng; Trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, kiểu máy A83, màu đen cho anh Y P Hđơk nhận quản lý, sử dụng.
* Về phần trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Nguyễn Anh Q số tiền 6.800.000 đồng.
Bị cáo Trần Tiến C không tranh luận gì, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đồng ý bồi thường thiệt hại cho bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận:
Vào ngày 16 tháng 11 năm 2024, bị cáo Trần Tiến C đã đến Bệnh viện T2 trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, kiểu máy A83, màu đen, trị giá 150.000 đồng của anh Y Pò H3; Vào ngày 06 tháng 12 năm 2024 bị cáo Trần Tiến C đến Bệnh viện T2, trộm cắp chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 12, màu vàng đồng, dung lượng 128GB, trị giá 6.800.000 đồng của ông Nguyễn Anh Q và ngày đến ngày 10 tháng 12 năm 2024, bị cáo Trần Tiến C tiếp tục đến Bệnh viện T2, trộm cắp chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13 Promax, màu xanh, dung lượng 128GB, số IMEI: 358406643271650, gắn 01 ốp da dạng ví, màu nâu đen, kích thước (16x18x01)cm, tổng trị giá 10.580.000 đồng của chị Phạm Thu H4 thì bị phát hiện và bắt giữ. Tổng giá trị các tài sản mà bị cáo Trần Tiến C đã chiếm đoạt là 17.530.000 đồng. Như vậy hành vi của bị cáo Trần Tiến C, đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức để biết được rằng tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi trộm cắp tài sản sẽ bị pháp luật trừng trị. Bị cáo đã từng bị xét xử về tội trộm cắp nhưng khi chấp hành án xong bản án không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật, coi thường quyền sở hữu tài sản của người khác. Do đó, cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo thì mới đảm bảo phát huy tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm và phạm tội 02 lần trở lên tại quy định tại các điểm h,g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Với tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống biết tôn trọng pháp luật, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.
[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13 Pro Max gắn 01 ốp điện thoại dạng ví, màu nâu đen, kích thước (16x18x01)cm và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, kiểu máy A83, màu đen. Quá trình điều tra xác định, các tài sản trên hợp pháp của chị Phạm Thị Thu H4 và anh Y Põ H3. Ngày 10 tháng 12 năm 2024 và ngày 28 tháng 02 năm 2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Phạm Thị Thu H4 và anh Y P Hđơk nhận quản lý, sử dụng. Sau khi nhận lại điện thoại trên chị Phạm Thị Thu H4 và anh Y Põ H3 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm là phù hợp.
- Đối với 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 47H1-409.87: Quá trình điều tra xác định, chiếc xe thuộc sở hữu hợp pháp của bà Trần Thị H1 (là em gái của bị cáo Trần Tiến C). Chị H1 cho bị cáo Trần Tiến C mượn chiếc xe làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội thì chị H1 không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe cho bà Trần Thị H1 nhận quản lý, sử dụng là phù hợp.
[5] Về phần dân sự của vụ án: Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 587 và Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Ông Nguyễn Anh Q yêu cầu bị cáo Trần Tiến C phải bồi thường giá trị 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 12, màu vàng đồng, dung lượng 128GB với số tiền 6.800.000 đồng. Bị cáo Trần Tiến C chấp nhận bồi thường cho anh Quân số tiền trên. Xét thấy việc yêu cầu trên của anh Q là phù hợp với kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐGTS ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B nên cần buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Quân số tiền 6.800.000 đồng.
[6] Về hành vi khác:
Trong vụ án này, đối với ông Trần Thọ Đ, là người cùng bị cáo Trần Tiến C đi đến Bệnh viện T2 nhưng không biết việc bị cáo Trần Tiến C thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với ông Trần Thọ Đ là phù hợp.
Đối với bà Trần Thị H1, là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 47H1-409.87. Chị H1 cho bị cáo Trần Tiến C mượn chiếc xe để đi lại và không biết việc C lấy chiếc xe trên đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với bà Trần Thị H1 là phù hợp.
[7] Về án phí: Bị cáo Trần Tiến C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ Luật Hình sự.
-
Tuyên bố: Bị cáo Trần Tiến C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Các điểm h, s khoản 1 Điều 51; Các điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Tiến C 02 (hai) năm tù.
Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 10 tháng 12 năm 2024.
-
Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Phạm Thị Thu H4 nhận quản lý, sử dụng 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13 Pro Max gắn 01 ốp điện thoại dạng ví, màu nâu đen, kích thước (16x18x01)cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, kiểu máy A83, màu đen cho anh Y Pò H3 và trả lại 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 47H1-409.87 cho bà Trần Thị H1 nhận quản lý, sử dụng.
-
Về phần dân sự của vụ án: Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 587 và Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Trần Tiến C phải bồi thường ông Nguyễn Anh Q số tiền 6.800.000 đồng (Sáu triệu tám trăm ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
-
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Tiến C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 340.000đồng án phí Dân sự sơ thẩm.
-
Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Mai |
Bản án số 111/2025/HS-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 111/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Trần Tiến Chính 02(hai) năm tù
