TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 111/2024/HNGĐ-ST
Ngày 16-12-2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Phạm Văn Dung
- Bà Bùi Thị Nhàn
- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Ngọc Khanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Trà My - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 117/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H; Nơi cư trú: Tầng B CT3 A5, Khu tập thể Q, tổ dân phố F, phường Q, quận H, thành phố Hải Phòng; Có mặt.
- Bị đơn: Anh Mai Mạnh H1; Nơi cư trú: Thôn C, xã N, huyện A, thành phố Hải Phòng; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện ngày 28 tháng 6 năm 2024, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Bùi Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Mai Mạnh H1 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 23 tháng 12 năm 2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng gia đình anh H1 tại thôn C, xã N, huyện A, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc, vui vẻ đến năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, do anh H1 không tin tưởng nghi ngờ các mối quan hệ của chị, anh H1 thường xuyên bỏ nhà đi chơi nhiều ngày, không dành thời gian quan tâm, chăm sóc vợ con, chị góp ý thì vợ chồng lại xảy ra mâu thuẫn. Từ tháng 02/2023 chị và anh H1 thuê nhà tại khu tập thể Q, quận H ở riêng, thời gian ở riêng vợ chồng lại xảy ra nhiều mâu thuẫn nên từ tháng 4/2023 chị và anh H1 đã sống ly thân mỗi người một nơi không ai còn quan tâm và có trách nhiệm với nhau. Chị và các con tiếp tục ở tại nhà thuê còn anh H1 về nhà ở cùng với gia đình ở thôn C, xã N. Trong suốt thời gian sống ly thân cho đến nay chị và anh H1 không có lần nào quay về đoàn tụ với nhau, mâu thuẫn vợ chồng cũng đã được gia đình hai bên động viên hòa giải nhưng vợ chồng không khắc phục được mâu thuẫn. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể đoàn tụ được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Mai Mạnh H1.
Về con chung: Chị và anh Mai Mạnh H1 có hai con chung là Mai Văn Kim Đ, sinh ngày 07 tháng 8 năm 2014 và Mai Ngọc H2, sinh ngày 15 tháng 5 năm 2021. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giao hai con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chị không đồng ý giao con Mai Văn Kim Đ cho anh H1 nuôi dưỡng. Vì trong suốt thời gian chung sống với nhau thì việc chăm sóc, dạy dỗ các con chủ yếu do một mình chị thực hiện, anh H1 không dành thời gian chăm lo cho các con; thời gian sống ly thân các con do một mình chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh H1 không hỗ trợ chị về kinh tế để nuôi dưỡng và không cùng chị chăm sóc các con nhưng chị vẫn chăm sóc, nuôi dưỡng các con phát triển tốt về sức khỏe và có kết quả học tập tốt. Hiện tại chị làm giáo viên, thu nhập trên 15.000.000đồng/tháng, công việc của chị làm giờ hành chính nên bản thân chị có đủ điều kiện về kinh tế, kiến thức, thời gian để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các con sau ly hôn. Anh H1 làm đầu bếp tại quán bia hàng ngày phải làm việc đến tối muộn mới về, bố anh H1 đã già yếu thường xuyên phải đi bệnh viện, mẹ anh H1 cũng phải thường xuyên đi chăm sóc bố anh H1 ở bệnh viện, gia đình anh H1 còn có chị gái bị bệnh và cháu của anh H1 ở cùng nên mẹ anh H1 cũng không có nhiều thời gian để giúp đỡ anh H1 đưa đón, chăm sóc con. Con chung Mai Văn K Đoàn có nguyện vọng được ở với chị và ở cùng với em gái Mai Ngọc H2. Việc chị nuôi hai con không có gánh nặng nào như ý kiến của anh H1 mà việc chăm sóc, nuôi dưỡng các con là niềm vui đối với chị.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị và anh H1 không có tài sản chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại các bản tự khai, quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn anh Mai Mạnh H1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Mai Mạnh H1 xác định lời khai của chị Bùi Thị H về điều kiện, thời gian kết hôn và quá trình chung sống là đúng. Vợ chồng xảy ra mâu thuẫn từ năm 2022, nguyên nhân là do giữa anh và chị H không có tiếng nói chung, chị H làm giáo viên có nhiều thay đổi trong suy nghĩ nên cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Việc anh nói chị H có quan hệ ngoại tình trong thời gian qua anh chỉ nghe thông tin từ dư luận chứ chưa có chứng cứ nào liên quan đến việc chị H ngoại tình. Trong thời gian chung sống với nhau, do công việc của anh gặp khó khăn nên cũng có lúc anh xao nhãng việc chăm lo cho gia đình và các con, anh đã trao đổi để chị H biết nhưng anh không nhận được sự thông cảm, chia sẻ từ chị H. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh và chị H không thể đoàn tụ được nên anh đồng ý ly hôn và anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị H được ly hôn.
Về con chung: Anh và chị Bùi Thị H có hai con chung là Mai Văn Kim Đ và Mai Ngọc H2 như chị H trình bày. Ly hôn, anh không đồng ý với quan điểm của chị H về việc nuôi con, anh đề nghị Tòa án giao con chung Mai Văn K Đoàn cho anh nuôi dưỡng và giao con chung Mai Ngọc H2 cho chị H nuôi dưỡng. Do công việc của anh gặp khó khăn, thua lỗ trong kinh doanh nên trong thời gian vợ chồng còn chung sống và thời gian ly thân anh có sao nhãng việc chăm sóc các con nhưng bản thân anh vẫn có trách nhiệm với các con. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, anh có đưa tiền và mua đồ dùng cho con nhưng không được thường xuyên vì thu nhập của anh còn dùng để trả nợ riêng, anh đã nói chuyện với chị H nhưng không nhận được sự chia sẻ, thông cảm từ chị H. Hiện tại anh làm đầu bếp thu nhập 15.000.000đồng/tháng, công việc của anh làm từ 09 giờ đến khoảng 20 giờ hàng ngày nhưng anh có thể chủ động được về thời gian, bố mẹ anh tạo điều kiện về chỗ ở và giúp đỡ anh trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Cháu Đ là con trai và cháu H2 là con gái nên việc anh nuôi dưỡng cháu Đ và chị H nuôi dưỡng cháu H2 sẽ phù hợp khi chăm sóc về thể chất và tâm sinh lý của các cháu sau này; anh nuôi cháu Đ sẽ giúp chị H san sẻ gánh nặng khi phải nuôi hai con nhỏ cùng một lúc. Nếu anh nuôi cháu Đ thì anh sẽ sắp xếp công việc để đảm bảo cho việc đưa đón, chăm sóc con được phát triển ở điều kiện tốt nhất.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Anh và chị H không có tài sản chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã chấp hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 của Bộ luật Dân sự; các điều 51, 55, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn cho chị Bùi Thị H và anh Mai Mạnh H1. Về con chung: Giao hai con chung Mai Văn Kim Đ, sinh ngày 07 tháng 8 năm 2014 và Mai Ngọc H2, sinh ngày 15 tháng 5 năm 2021 cho chị Bùi Thị H trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung: Không xem xét, giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn và bị đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Bùi Thị H khởi kiện ly hôn đối với anh Mai Mạnh H1, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Mai Mạnh H1 hiện đang cư trú tại huyện A, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của các đương sự, tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và do Tòa án thu thập, đủ cơ sở xác định: Chị Bùi Thị H và anh Mai Mạnh H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 23 tháng 12 năm 2013 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện A, thành phố Hải Phòng. Như vậy, theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì quan hệ hôn nhân của chị Bùi Thị H và anh Mai Mạnh H1 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có sự tin tưởng, chia sẻ với nhau và đã sống ly thân từ tháng 4/2023 không ai còn quan tâm và có trách nhiệm với ai. Xét thấy, tình trạng hôn nhân của chị H và anh H1 đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy yêu cầu ly hôn của chị H và anh H1 là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 55 của của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3] Về con chung: Chị Bùi Thị H và anh Mai Mạnh H1 có hai con chung là Mai Văn Kim Đ, sinh ngày 07 tháng 8 năm 2014 và Mai Ngọc H2, sinh ngày 15 tháng 5 năm 2021. Chị Bùi Thị H và anh Mai Mạnh H1 có tranh chấp về người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, cụ thể chị H có quan điểm được nuôi hai con chung còn anh H1 có quan điểm anh nuôi con Mai Văn Kim Đ và chị H nuôi con Mai Ngọc H2. Các con chung của chị H và anh H1 đều chưa thành niên nên trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là trách nhiệm và quyền của cha mẹ. Xét từ khi sống ly thân chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung và anh H1 không thường xuyên đóng góp kinh tế, thời gian cùng chị H chăm sóc, nuôi dưỡng các con nhưng các con vẫn được chị H chăm sóc, nuôi dưỡng có sức khỏe tốt và kết quả học tập tốt. Chị H hiện là giáo viên và thời gian làm việc của chị H phù hợp với thời gian học tập của các con, anh H1 làm đầu bếp tại quán bia thời gian làm việc đến tối muộn không phù hợp với giờ giấc học tập và sinh hoạt của các con. Chị H và anh H1 đều chưa có nhà ở riêng, bản thân anh H1 đang ở nhờ nhà bố mẹ đẻ được bố mẹ đẻ tạo điều kiện về chỗ ở nếu anh H1 nuôi con; chị H tuy đang ở nhà thuê nhưng việc thuê nhà của chị H ổn định, được chủ nhà tạo điều kiện về thời gian thuê, chỗ ở gần với trường học của các con, trong thời gian sống ly thân thu nhập của chị H vẫn đảm bảo được việc nuôi con và trả tiền thuê nhà. Xét về các điều kiện thì chị H có điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc các con tốt hơn anh H1, mặt khác con chung Mai Văn K Đoàn có nguyện vọng được ở với chị H cùng em gái Mai Ngọc H2. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của các con cũng như để ổn định cuộc sống và việc học tập của các con nên giao các con chung Mai Văn Kim Đ và Mai Ngọc H2 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về cấp dưỡng: Chị Bùi Thị H và anh Mai Mạnh H1 đều có quan điểm không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Chị Bùi Thị H và anh Mai Mạnh H1 đều có quan điểm vợ chồng không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: Chị Bùi Thị H và anh Mai Mạnh H1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn pháp luật quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; Điều 39 của Bộ luật Dân sự; các điều 51, 55, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị H và anh Mai Mạnh H1 .
- Về con chung: Giao con chung Mai Văn Kim Đ, sinh ngày 07 tháng 8 năm 2014 và Mai Ngọc H2, sinh ngày 15 tháng 5 năm 2021 cho chị Bùi Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con tính ngày bản án này có hiệu lực pháp luật cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về việc cấp dưỡng và tài sản: Không giải quyết.
- Về án phí: Chị Bùi Thị H và anh Mai Mạnh H1 mỗi người phải chịu 75.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước. Số tiền án phí chị H phải chịu được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm án phí chị Bùi Thị H đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0008558 ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, nay trả lại cho chị Hằng số tiền 225.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Liên |
Bản án số 111/2024/HNGĐ-ST ngày 16/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 111/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hằng + Hùng
