Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2024/HSST

Ngày: 09/12/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Thanh Minh

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Đặng Viết Côi – Giáo viên nghỉ hưu

+ Bà Nguyễn Thị Vân – Giáo viên nghỉ hưu

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Cúc - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2024, Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà, TP . xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 120/2024/HSST ngày 25/11/2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2024/QĐXXST – HS ngày 26/11/2024 đối với các bị cáo:

  1. Đỗ Văn H – sinh ngày: 31/3/2008; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện tại: thôn Đ, xã P, huyện Ứ, TP .. Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: không; nghề nghiệp: học sinh; trình độ văn hoá: 11/12; con ông: Đỗ Văn T và bà Đỗ Thị K; vợ con: chưa có; Tiền án, Tiền sự: không. Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 04/9/2024 đến ngày 13/9/2024, được thay đổi biện pháp ngăn chặn, áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và T1 hoãn xuất cảnh. Có mặt tại phiên tòa.
  2. - Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Đỗ Văn H là: Ông Đỗ Văn T – sinh năm: 1967 và bà Đỗ Thị K – sinh năm: 1968. (có mặt)

    Đều HKTT: thôn Đ, xã P, huyện Ứ, TP .

  3. Nguyễn Quang T2 – sinh ngày: 07/6/2007; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện tại: thôn Đ, xã P, huyện Ứ, TP .. Nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 12/12; con ông: Nguyễn Công A và bà Phạm Thị Q; vợ con: chưa có; Tiền án, Tiền sự: không. Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 04/9/2024 đến ngày 13/9/2024, được thay đổi biện pháp ngăn chặn, áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và T1 hoãn xuất cảnh. Có mặt tại phiên tòa.
  4. - Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Quang T2 là ông Nguyễn Công A – sinh năm: 1973 và bà Phạm Thị Q – sinh năm: 1981. (có mặt)

    Đều HKTT: thôn Đ, xã P, huyện Ứ, TP .

  5. Nguyễn Quốc Đ – sinh ngày: 19/3/2008; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện tại: thôn P, xã P, huyện Ứ, TP .; Nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 11/12; con ông: Nguyễn Văn T3 và bà Nguyễn Thị H1; vợ con: chưa có; Tiền án, Tiền sự: không. Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 04/9/2024 đến ngày 13/9/2024, được thay đổi biện pháp ngăn chặn, áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và T1 hoãn xuất cảnh. Có mặt tại phiên tòa.
  6. Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Quốc Đ là ông Nguyễn Văn T3 – sinh năm: 1977 và bà Nguyễn Thị H1 – sinh năm: 1982 (có mặt)

    Đều HKTT: thôn P, xã P, huyện Ứ, TP .

  7. Lê Việt H2 – sinh ngày: 21/4/2008; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện tại: thôn P, xã P, huyện Ứ, TP .; Nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 10/12; con ông: Lê Văn H3 và bà Luân Thị L; vợ con: chưa có; Tiền án, Tiền sự: không. Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 04/9/2024 đến ngày 13/9/2024, được thay đổi biện pháp ngăn chặn, áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và T1 hoãn xuất cảnh. Có mặt tại phiên tòa.
  8. Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Lê Việt H2 là ông Lê Văn H3 – sinh năm: 1984 và bà Luân Thị L – sinh năm: 1984 (có mặt)

    Đều HKTT: thôn P, xã P, huyện Ứ, TP .

- Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Văn H, Nguyễn Quang T2 là ông Nguyễn Ngọc C – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. (có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc Đ, Lê Việt H2 là bà Đinh Thị Mai P - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. (có mặt)

- Đại diện Đoàn thanh niên xã P: Anh Vũ Hồng G – Bí thư Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã P. (có mặt)

2. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Cháu Đỗ Thành T4 – sinh ngày: 06/9/2009 (có mặt)
  2. Đại diện theo pháp luật của cháu T4 là: Anh Đỗ Văn H4 – sinh năm: 1986 và chị Vũ Thị T5 – sinh năm: 1987 (có mặt)

    Địa chỉ: thôn Đ, xã P, huyện Ứ, TP .

  3. Cháu Đỗ Ngọc A1 – sinh ngày: 23/10/2009 (có mặt)
  4. Người đại diện theo pháp luật của cháu A1 là: Anh Đỗ Văn C1 – sinh năm: 1985 và chị Đỗ Thị T6 – sinh năm: 1986 (có mặt)

    Địa chỉ: thôn Đ, xã P, huyện Ứ, TP .

  5. Cháu Đỗ Đức T7 – sinh ngày: 24/7/2009 (có mặt)
  6. Người đại diện theo pháp luật của cháu T7: anh Đỗ Đức T8 – sinh năm: 1974 và chị Đỗ Thị H5 – sinh năm: 1980 (có mặt)

    Địa chỉ: thôn Đ, xã P, huyện Ứ, TP .

  7. Cháu Nguyễn Hữu Gia B – sinh ngày: 02/12/2009 (có mặt)
  8. Người đại diện theo pháp luật của cháu B: Anh Nguyễn Hữu T9 – sinh năm: 1982 và chị Bùi Thị H6 – sinh năm: 1980 (có mặt)

    Địa chỉ: thôn Đ, xã P, huyện Ứ, TP .

  9. Cháu Nguyễn Tiến Đ1 – sinh ngày: 07/10/2008 (có mặt)
  10. Người đại diện theo pháp luật của cháu Đ1: anh Nguyễn Văn T10 – sinh năm: 1982 và chị Hoàng Thị H7 – sinh năm: 1981 (có mặt)

    Địa chỉ: thôn Đ, xã P, huyện Ứ, TP .

  11. Cháu Nguyễn Tiến D – sinh ngày: 27/12/2008 (Vắng mặt)
  12. Người đại diện theo pháp luật của cháu D là: anh Nguyễn Văn G1 – sinh năm: 1984 và chị Nguyễn Thị H8 – sinh năm: 1983 (Vắng mặt)

    Địa chỉ: thôn P, xã P, huyện Ứ, TP .

  13. Chị Luân Thị L – sinh năm: 1984 (Có mặt)
  14. Địa chỉ: thôn P, xã P, huyện Ứ, TP .

  15. Bà Lưu Thị Thu H9 – sinh năm: 1963 (Vắng mặt)
  16. Địa chỉ: I, ngõ F, B, phường Q, quận H, TP .

  17. Anh Nguyễn Hữu T9 – sinh năm: 1982 (Có mặt)
  18. Địa chỉ: Đ, xã P, huyện Ứ, TP .

  19. Chị Vũ Thị T5 – sinh năm: 1987 (Có mặt)
  20. Địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện Ứ, TP .

  21. Anh Nguyễn Văn T10 – sinh năm: 1982 (Có mặt)
  22. Địa chỉ: thôn Đ, xã P, huyện Ứ, TP .

  23. Chị Nguyễn Thị H8 – sinh năm: 1983 (Vắng mặt)
  24. Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện Ứ, TP .

3. Người làm chứng:

  1. Chị Nguyễn Thị H10 – sinh năm: 1984 (Vắng mặt)
  2. Địa chỉ: thôn Đ, xã P, huyện Ứ, TP .

  3. Anh Hoàng Văn T11 – sinh năm: 1997 (Vắng mặt)
  4. Địa chỉ: thôn Đ, xã P, huyện Ứ, TP .

  5. Chị Nguyễn Thị T12 – sinh năm: 1999 (Vắng mặt)
  6. Địa chỉ: thôn Đ, xã P, huyện Ứ, TP .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 03/9/2024, Đỗ Văn H mang theo 01 con dao (dạng kiếm) đi ra khu vực ao làng thôn Đ, tập trung cùng Nguyễn Quang T2, Đỗ Thành T4, Đỗ Ngọc A1, Đỗ Đức T7, Nguyễn Hữu Gia B và Nguyễn Tiến Đ1. Tại đây, H nói “anh em chuẩn bị thêm đồ đi lượn đường tí nhỉ”, thì tất cả hiểu ý H rủ chuẩn bị thêm hung khí, sử dụng xe máy diễu phố, dọa người đi đường sợ và gặp nhóm nào thì gây sự đánh nhau. Sau đó, Đ1 cùng với A1 đi về nhà Đ1 lấy thêm 01 tuýp sắt gắn dao mang ra đưa cho H; còn 01 dao (dạng kiếm) H đưa cho T7 cầm.

Khi đã chuẩn bị xong công cụ, phương tiện, T4 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 29AZ- 004.65 chở H cầm 01 tuýp sắt gắn dao; A1 điều khiển xe mô tô Honda Wave màu xám, biển kiểm soát 29T1-340.18 chở Đ1; T2 điều khiển xe mô tô Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 29AZ- 001.70 chở B và T7 cầm 01 dao (dạng kiếm) đi lên thị trấn V, huyện Ứ, TP Hà Nội. Khi đi đến đầu làng T, xã P thì nhóm của H gặp Lê Việt H2 điều khiển xe mô tô Honda Vision màu xám, biển kiểm soát 29Y3- 784.16 chở Nguyễn Quốc Đ và Nguyễn Tiến D điều khiển xe mô tô Honda Wave RSX màu trắng đen, biển kiểm soát 29T1-205.96. Thấy vậy, T4 rủ H2, Đ, D cùng tham gia, thì tất cả đồng ý nhập thành một nhóm. Lúc này, T7 đưa dao dạng kiếm cho Nguyễn Quốc Đ cầm rồi tất cả cùng nhau di chuyển trên đường T hướng xã P đi lên đường Quốc lộ B vào Trung tâm thương mại, thị trấn V, huyện Ứ, TP Hà Nội.

Quá trình di chuyển, cả nhóm đi xe mô tô với tốc độ cao, rượt đuổi, lạng lách, đánh võng, rú ga, bóp còi liên tục, hò hét tạo tiếng ồn lớn trong khoảng 30 phút. Sau đó, cả nhóm giải tán, cất giấu hung khí tại nhà B rồi đi về. Sau khi nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, ngày 04/9/2024 Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ứ triệu tập các đối tượng đến trụ sở làm việc, Đỗ Văn H, Nguyễn Quang T2, Nguyễn Quốc Đ, Lê Việt H2 có đơn xin đầu thú, tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

- Vật chứng, dữ liệu thu giữ:

  • 01 tuýp sắt gắn dao dài 3,2m, loại dao bầu, đường kính ống tuýp 2,1cm.
  • 01 dao kim loại dạng kiếm dài 62cm, chuôi dao bằng gỗ dài 20cm, lưỡi dao dài 42cm, mũi dao nhọn, một cạnh sắc, bản rộng nhất 5cm, bên ngoài có vỏ ốp bằng gỗ màu đen.
  • 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu xám BKS 29Y3-784.16;
  • 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xám BKS 29T1-340.18;
  • 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng BKS 29AZ-004.65;
  • 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu trắng đen, BKS 29T1-205.96;
  • 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS 29AZ-001.70.
  • 02 file video ghi lại nội dung sự việc.

Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã P: Ông Vũ Hồng G có quan điểm: các bị cáo đều là đoàn viên, thanh niên sinh hoạt tại địa phương, các bị cáo suy nghĩ, nhận thức còn chưa đầy đủ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo có cơ hội tiếp tục học tập và rèn luyện bản thân. Về phía Đoàn thanh niên xã cũng sẽ có phương án để tuyên truyền, giáo dục đối với các bị cáo nói riêng và đoàn viên, thanh niên tại địa phương nói chung.

Bản cáo trạng số 116/CT-VKS ngày 22/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa truy tố Đỗ Văn H; Nguyễn Quang T2, Nguyễn Quốc Đ; Lê Việt H2 về: “Gây rối trật tự công cộng” qui định tại khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 91; Điều 65; Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Văn H từ 24 đến 30 tháng tù; nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T2; Nguyễn Quốc Đ; Lê Việt H2 từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng.

Về vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy: 01 tuýp sắt gắn dao dài 3,2m, loại dao bầu, đường kính ống tuýp 2,1cm; 01 dao kim loại dạng kiếm dài 62cm, chuôi dao bằng gỗ dài 20cm, lưỡi dao dài 42cm, mũi dao nhọn, một cạnh sắc, bản rộng nhất 5cm, bên ngoài có vỏ ốp bằng gỗ màu đen.

Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Văn H và Nguyễn Quang T2 là ông Nguyễn Ngọc C; Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc Đ và Lê Việt H2 là bà Đinh Thị Mai P: đều hoàn toàn nhất trí nội dung cáo trạng mà Đại diện viện kiểm sát công bố. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nhân thân các bị cáo là người chưa thành niên, suy nghĩ hành động chưa thấu đáo; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp hơn mức án thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Qúa trình tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đều thực hiện đúng, đầy đủ các qui định của pháp luật.

[2] Qúa trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Ngày 03/9/2024, Đỗ Văn H, Nguyễn Quang T2, Nguyễn Quốc Đ, Lê Việt H2, cùng nhau mang theo dao, tuýp sắt gắn dao (là hung khí), điều khiển xe mô tô đi với tốc độ cao, rượt đuổi, lạng lách, đánh võng, rú ga, bóp còi liên tục, hò hét tạo tiếng ồn lớn trong khoảng 30 phút tại khu vực đường T, đường Q và Trung tâm thương mại, thị trấn V, Ứ, Hà Nội, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn huyện. Các bị cáo sử dụng các công cụ như tuýp sắt gắn dao; dao dạng kiếm được xác định là hung khí nguy hiểm.

Do vậy, hành vi nêu trên của các bị cáo Đỗ Văn H, Nguyễn Quang T2, Nguyễn Quốc Đ, Lê Việt H2 đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng, an ninh, an toàn địa phương, ảnh hưởng xấu đến hoạt động bình thường ở những nơi công cộng được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo ra đầu thú, Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên xem xét cho hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại s khoản 1, 2 Điều 51 của BLHS.

[4] Xét vai trò của các bị cáo: Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo Đỗ Văn H mang theo dao dạng kiếm là người khởi xướng rủ những đối tượng còn lại tham gia vào hành vi phạm tội. Do đó, H có vai trò chính, cầm đầu. Các bị cáo còn lại với vai trò là người thực hành. Dó đó, HĐXX xem xét tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo để đưa ra mức hình phạt phù hợp.

[5] Một số nội dung khác:

Đối với Đỗ Ngọc A1, Đỗ Đức T7, Đỗ Thành T4, Nguyễn Tiến D, Nguyễn Hữu Gia B, Nguyễn Tiến Đ1 đều là người dưới 16 tuổi thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng, nên không đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại Điều 318 Bộ luật hình sự. Ngày 21/10/2024, Công an huyện Ứ đã có văn bản đề nghị và chuyển hồ sơ, tài liệu có liên quan đến UBND xã P để Chủ tịch UBND xã P áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã đối với (A, T7, T4, D, B); ngày 23/10/2024, Công an huyện Ứ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đ1 bằng hình thức phạt cảnh cáo là có căn cứ.

Đối với Nguyễn Quang T2, Nguyễn Quốc Đ và Đỗ Văn H, Lê Việt H2 là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, khi tham gia giao thông không đội mũ bảo hiểm, điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 50 cm3 trở lên, vi phạm quy định tại Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019, được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt. Ngày 23/10/2024, Công an huyện Ứ, Hà Nội đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T2, Đ, H, H2 theo quy định pháp luật.

Đối với 05 xe mô tô gồm Xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xám BKS 29Y3-784.16 là của chị Luân Thị L1; Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xám, biển kiểm soát 29T1-340.18 là của anh Nguyễn Văn T10; Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 29AZ-004.65 là của chị Vũ Thị T5; Xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu trắng đen, biển kiểm soát 29T1-205.96 là của chị Nguyễn Thị H8; Xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 29AZ-001.70 là của anh Nguyễn Hữu T9 mà các bị cáo và các đối tượng có liên quan dùng để gây rối trật tự công cộng, qua điều tra xác định: Các chủ sở hữu đều không biết việc các bị cáo cùng những người liên quan dùng xe để thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng; Kết quả tra cứu xác định các phương tiện trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng, nên ngày 24/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Ứ đã trả lại các phương tiện trên cho các chủ sở hữu là có căn cứ.

[6] Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ: 01 tuýp sắt gắn dao dài 3,2m, loại dao bầu, đường kính ống tuýp 2,1cm và 01 dao kim loại dạng kiếm dài 62cm, chuôi dao bằng gỗ dài 20cm, lưỡi dao dài 42cm, mũi dao nhọn, một cạnh sắc, bản rộng nhất 5cm, bên ngoài có vỏ ốp bằng gỗ màu đen.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 90; 91; Điều 65; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 135, 136; Điều 331; 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Toà án;

  1. Tuyên bố các bị cáo Đỗ Văn H, Nguyễn Quang T2, Nguyễn Quốc Đ, Lê Việt H2 phạm tội “ Gây rối trật tự công cộng”;

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn H 24 (hai mươi bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang T2; Bị cáo Nguyễn Quốc Đ; bị cáo Lê Việt H2, mỗi bị cáo 18 (Mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Đỗ Văn H, Nguyễn Quang T2, Nguyễn Quốc Đ, Lê Việt H2 cho UBND xã P, huyện Ứ, Tp . và gia đình quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Đỗ Văn H, Nguyễn Quang T2, Nguyễn Quốc Đ, Lê Việt H2 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ: 01 tuýp sắt gắn dao dài 3,2m, loại dao bầu, đường kính ống tuýp 2,1cm và 01 dao kim loại dạng kiếm dài 62cm, chuôi dao bằng gỗ dài 20cm, lưỡi dao dài 42cm, mũi dao nhọn, một cạnh sắc, bản rộng nhất 5cm, bên ngoài có vỏ ốp bằng gỗ màu đen.

(Biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Thi hành án Dân sự và cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Ứ, TP . ngày 29/11/2024)

  1. Về án phí: mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện theo pháp luật của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ (Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo nội dung liên quan đến quyền lợi của chính mình).

Nơi nhận:

  • - TAND TP.Hà Nội;
  • - CA, VKS, THADS Ứng Hòa;
  • - Bị cáo, đại diện theo pháp luật của bị cáo;
  • - Người bào chữa cho bị cáo
  • Người có QLNVLQ;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thanh Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HSST ngày 09/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm (gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 111/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Đỗ Văn H cùng đồng phạm phạm tội gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger