Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2024/HS-ST

Ngày 28 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đức Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Quang Hòa;

Bà Trần Thị Huệ;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Út, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây xét xử sơ thẩm công khai, trực tiếp vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 122/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1.Nguyễn Văn T, sinh năm 1991; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện tại: Thôn L, xã B, huyện T, TP .; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn D, sinh năm 1962; Con bà: Chu Thị Á, sinh năm 1962; Vợ: Vũ Thị T1, sinh năm 1990. Con có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2016 bị Công an huyện T, TP . phạt cảnh cáo về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị can bị bắt từ ngày 25/6/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an thị xã S. (Có mặt).

2. Đặng Công D1, sinh năm 1998; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện tại: Thôn L, xã B, huyện T, TP .; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Đặng Văn Đ, sinh năm 1976; Con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1976; Vợ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 2003, con: Có 01 con sinh năm 2024. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị can bị bắt từ ngày 25/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại Tạm giam số I- Công an thành phố H. (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Đào Văn N, sinh năm 1991; (Vắng mặt)
  2. Ông Đặng Văn Đ, sinh năm 1976; (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn L, xã B, huyện T, TP .;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 24/6/2024, Nguyễn Văn T đi xe ô tô taxi đến ngõ F Chùa T, phường T để mua ma túy. Đến nơi, T gặp và mua của một người phụ nữ không quen biết tên tuổi và địa chỉ 01 gói ma tuý đá, 01 gói ma tuý ngựa và 01 coóng thuỷ tinh (dụng cụ sử dụng ma tuý) hết số tiền 450.000 đồng. Sau đó, T tiếp tục đi xe ô tô taxi đem số ma túy này đến Nhà nghỉ "" ở thôn Đ, xã C, thị xã S thuê phòng 206 để nghỉ. Tại phòng nghỉ 206, T dùng bật lửa nung nóng nắp chai Lavie, gắn coóng thuỷ tinh và ống hút rồi cho ma tuý vào coóng để sử dụng. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, T nhắn tin, gọi điện qua ứng dụng Zalo cho bạn là Đặng Công D1 đến phòng 206 nhà nghỉ " để đón T đi có việc. D1 đồng ý và đi xe máy Honda Wave, BKS: 29V5-283.25 đến nhà nghỉ. Tại đây, D1 hỏi T có còn ma túy không để cho D1 sử dụng, T bảo có, đồ ở trên bàn nhỏ cạnh giường. Nghe vậy, Danh cầm dụng cụ sử dụng ma tuý và dùng bật lửa đốt nóng để sử dụng. Sau đó, T bảo D1 chở T về nhà T lấy xe máy đi có việc, D1 không sử dụng nữa và lấy xe máy chở T về nhà. Sau khi giải quyết xong việc riêng, khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày thì T đi xe máy quay lại nhà nghỉ.

Tiếp đó, khoảng 07 giờ ngày 25/6/2024 T chuyển khoản 600.000 đồng cho D1 nhờ D1 rút tiền mặt mang đến nhà nghỉ " cho T để T nhờ chuộc điện thoại đã cầm cố, D1 đồng ý. Sau đó, D1 đi đến phòng 206 nhà nghỉ ", tại đây thấy trong bộ dụng cụ sử dụng ma túy hôm trước vẫn còn ma túy thì Danh cầm và tiếp tục sử dụng. Một lúc sau, có Đào Văn N- Sinh năm (SN): 1991, trú tại: xã B, huyện T, Hà Nội (đều là bạn sử dụng ma túy với T và D1) gọi điện, nhắn tin cho T rủ đi chơi, T nói với N là đang cùng D1 ở nhà nghỉ ", Nam hiểu hai người này đang sử dụng ma tuý tại đó nên nói với T là phần lại một ít ma túy cho N sử dụng, T đồng ý và bảo

D1 phần một ít ma túy cho N. Vì không có xe đi nên N gọi điện nhờ T bảo D1 đón N tại cổng làng của N. Nghe vậy, D1 cất bộ dụng cụ sử dụng ma tuý ở gậm giường rồi xuống lấy xe máy đi đón N đến nhà nghỉ. Khoảng 10 giờ cùng ngày, D1 và N đến phòng 206 của nhà nghỉ ", tại đây D1 lấy ở gậm giường ra bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đưa cho N, N cầm và ngồi sử dụng tại giường, T cũng sử dụng, còn D1 ngồi chơi điện thoại. Sau khi vừa sử dụng hết số ma túy trong coóng, khoảng 11 giờ cùng ngày D1 và T đã bị Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã S phối hợp với công an xã C đến kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ gồm:

  • - T2 tại mặt bàn ở phòng 206 nhà nghỉ ": 01 gói nilông trong suốt kích thước (1,5x2)cm, bên trong bám dính tinh thể màu trắng; 01 gói nilông trong suốt kích thước (1,5x1,5)cm bên trong bám dính chất bột màu hồng, đã được niêm phong (Nguyễn Văn T khai là ma tuý đá, ma tuý ngựa của T mua ngày 24/6/2024).
  • - Thu tại gầm giường và đầu giường phòng nghỉ 206: 01 coóng thuỷ tinh bám dính chất màu đen; 01 chai nhựa thể tích 500ml, bên ngoài có chữ lavie, nắp màu xanh được gắn 01 ống hút màu tím nối với 01 ống hút màu da cam (bộ dụng cụ sử dụng ma tuý), đã được niêm phong và 02 bật lửa ga (01 cái màu đỏ, 01 cái màu xanh).
  • - Thu của các đối tượng bị bắt giữ, gồm:
    • + Của Nguyễn Văn T: 01 điện thoại di động Samsung vỏ màu đen đã qua sử dụng, số imei 1: 358475776103246101, số imei 2: 359111896103241101; 01 ví màu nâu bên trong có số tiền 1.750.000 đồng (tiền ngân hàng N1) và 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh-đen BKS: 29V7-519.82, số khung 015161, số máy 026134.
    • + Của Đặng Công D1: 01 điện thoại Iphone màu xám đã qua sử dụng, số imei 1: 353833105924333, số imei 2: 353833105877606; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đen-trắng, BKS: 29V5-283.25, số khung 072181, số máy 072247, đã qua sử dụng.
    • + Của Đào Văn N: 01 điện thoại di động Oppo, vỏ màu hồng, số imei 1: 868638037698832, số Imei 2: 868638037698824, đã qua sử dụng.

Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn T và Đặng Công D1 về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, niêm phong vật chứng (02 gói nilong và bộ sử dụng ma túy), đưa các đối tượng cùng vật chứng khác về trụ sở cơ quan điều tra để làm rõ xử lý (bút lục 60 đến 70).

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn T và Đặng Công D1 không phát hiện và thu giữ được gì.

Ngày 25/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã S đã ra quyết định trưng cầu giám định gói niêm phong thu giữ ở trên. Tại bản Kết luận giám định số 4898/KLGĐ-PC09 ngày 05/7/2024 của Phòng K- Công an thành phố H (bút lục 86), kết luận:

"02 gói nilông, 01 coóng thuỷ tinh và 01 chai nhựa có nắp màu xanh được gắn 01 ống hút màu tím nối với ống hút màu da cam đều có dính ma tuý loại Methamphetamine".

Đối với người phụ nữ bán ma tuý cho T ngày 24/6/2024: T khai mới gặp lần đầu, không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh, rà soát camera nơi mua bán ma tuý, nhưng không có thông tin, dữ liệu, hình ảnh gì, nên không có cơ sở làm rõ xử lý trong vụ án.

Đối với Đào Văn N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 25/6/2024: Xét nhân thân chưa có tiền án, tiền sự về tội phạm ma túy nên không có căn cứ xử lý hình sự về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, Công an thị xã S đã xử phạt hành chính cảnh cáo, là có căn cứ.

Đối với Nhà nghỉ “Vạn Thành” chủ hộ kinh doanh là Phạm Thị Thanh Y ở thôn N, xã C, thị xã S: Ngày 25/6/2024 khi các đối tượng đến thuê phòng nghỉ chị Y có nghi vấn việc sử dụng trái phép chất ma tuý, nên đã trình báo công an xem xét giải quyết và sau đó các đối tượng đã bị bắt giữ. Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

Vật chứng: 01 xe máy Honda wave nhãn hiệu Honda Wave, màu đen-trắng, BKS: 29V5-283.25, số khung 072181, số máy 072247, đã qua sử dụng, chủ sở hữu của anh Đặng Văn Đ- SN: 1976, địa chỉ: xã B, huyện T, Hà Nội, anh Đ cho Đặng Công D1 mượn, không biết D1 sử dụng xe vào việc phạm tội; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh-đen BKS: 29V7-519.82, số khung 015161, số máy 026134, là xe của bị can Nguyễn Văn T mua lại của chị Tô Thị X- SN: 1992 ở Đ, xã Đ, huyện Q, Hà Nội (hiện T đã làm mất đăng ký xe) cùng các vật chứng khác (có bản kê kèm theo) được chuyển đến kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây để xử lý theo pháp luật.

Trước Cơ quan điều tra, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Cáo trạng số: 123/CT-VKS-ST ngày 13/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây truy tố đối với Nguyễn Văn T về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 255 và Đặng Công D1 về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Văn T và Đặng Công D1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên. Bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của mình đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, hoàn cảnh các bị cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về hòa nhập xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đủ yếu tố cấu thành tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 255 BLHS 2015; hành vi của bị cáo Đặng Công D1 đủ yếu tố cấu thành tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 BLHS năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng các điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 xử phạt Nguyễn Văn T từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 255, khoản s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015 xử phạt Đặng Công D1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng, đề nghị:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) hộp giấy được niêm phong dán kín bên ngoài có chữ ký của đối tượng Nguyễn Văn T, Đặng Công D1, Đào Văn N, cán bộ Công an thị xã S - Nguyễn Đức C, giám định viên phòng PC 09 - Trần Huy V ; 02 (hai) bật lửa ga trong đó có 01 (một) cái màu đỏ và 01 (một) cái màu xanh, 01 (một) chiếc ví màu nâu;
  • - Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước; 01 (một) điện thoại Iphone, vỏ màu xám, số Imei 1: 353833105924333, số Imei 2: 353833105877606, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động Samsung vỏ màu đen, số Imei 1: 358475776103246/01, số Imei 2: 359111896103241/01, đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động Oppo, vỏ màu hồng, số Imei 1: 868638037698832, số Imei 2: 868638037698824, đã qua sử dụng;
  • - Trả lại ông Đặng Văn Đ: 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đen trắng, biển kiểm soát: 29V5- 283.25, số khung 072181, số máy 072247, đã qua sử dụng;
  • - Trả lại bị cáo Nguyễn Văn T: 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xanh đen, biển kiểm soát: 29V7-519.82, số khung 215191, số máy 5213897; số tiền 1.750.000 đồng;
  • - Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến

hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Văn T, Đặng Công D1 nhận thấy:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 24/6/2024, tại phòng 206 Nhà nghỉ “Vạn Thành”, địa chỉ: thôn Đ, xã C, thị xã S, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn T có hành vi thuê phòng nghỉ, chuẩn bị mua ma túy, công cụ sử dụng (coóng, chai nhựa, ống hút), pha chế để sử dụng, sau cho Đặng Công D1 cùng sử dụng. Tiếp đó, khoảng 10 giờ ngày 25/6/2024 tại phòng nghỉ này thấy trong coóng vẫn còn ma túy chưa dùng hết từ hôm trước, D1 lại lấy ra sử dụng. Cùng lúc có Đào Văn N (bạn của T) điện thoại hỏi và bảo T phần một ít ma túy cho N sử dụng, T đồng ý rồi bảo D1 đi đón N đến nhà nghỉ. Khi D1 đưa N đến phòng 206, D1 đã lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đưa cho N sử dụng, T cũng sử dụng, còn D1 ngồi chơi điện thoại. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày đã bị Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã S phối hợp với công an xã C phát hiện, bắt quả tang.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định hành vi của Nguyễn Văn T đã phạm tội: "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 255 BLHS; hành vi của Đặng Công D1 đã phạm tội: "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1 Điều 255 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Đặng Công D1 về tội danh là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Đối với người phụ nữ bán ma tuý cho T ngày 24/6/2024: T khai mới gặp lần đầu, không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh, rà soát camera nơi mua bán ma tuý, nhưng không có thông tin, dữ liệu, hình ảnh gì, không có cơ sở làm rõ xử lý trong vụ án nên HĐXX không xem xét.

Đối với Đào Văn N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 25/6/2024: Xét nhân thân chưa có tiền án, tiền sự về tội phạm ma túy nên không có căn cứ xử lý hình sự về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, Công an thị xã S đã xử phạt hành chính cảnh cáo nên HĐXX không xem xét.

Đối với Nhà nghỉ “Vạn Thành” chủ hộ kinh doanh là Phạm Thị Thanh Y ở thôn N, xã C, thị xã S: Ngày 25/6/2024 khi các đối tượng đến thuê phòng nghỉ chị Y có nghi vấn việc sử dụng trái phép chất ma tuý, nên đã trình báo công an xem xét

giải quyết và sau đó các đối tượng đã bị bắt giữ. Cơ quan điều tra không xử lý nên HĐXX không xem xét.

[3]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý các chất ma túy của Nhà nước được pháp luật hình sự bảo vệ. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó cần có hình phạt nghiêm khắc cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét tính chất, mức độ hành vi của từng bị cáo: Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng tiếp nhận ý chí của nhau về sử dụng chung ma túy. Bị cáo Nguyễn Văn T là người chuẩn bị địa điểm, phương tiện mua và sử dụng ma túy, trực tiếp pha chế để sử dụng sau đó cho Đặng Công D1 cùng sử dụng, nên có vai trò người tổ chức, thực hành; Bị cáo Đặng Công D1 trực tiếp sử dụng ma túy cùng T, đón N đến địa điểm và đưa công cụ sử dụng ma túy cho N cùng sử dụng với T nên có vai trò đồng phạm giúp sức với T trong vụ án. Do vậy bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn bị cáo Đặng Công D1.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đều phạm tội lần đầu, bị cáo Nguyễn Văn T có bố là ông Nguyễn Văn D có nhiều đóng góp cho cộng đồng, từng được Ủy ban nhân dân huyện T, TP . tặng danh hiệu "Người tốt, việc tốt" tiêu biểu năm 2022, bị cáo Đặng Công D1 có con nhỏ dưới 12 tháng tuổi nên Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều không có tài sản riêng, không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]. Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) hộp giấy được niêm phong dán kín bên ngoài có chữ ký của đối tượng Nguyễn Văn T, Đặng Công D1, Đào Văn N, cán bộ Công an thị xã S - Nguyễn Đức C, giám định viên phòng PC 09 - Trần Huy V bên trong có chứa ma túy là vật cấm lưu thông và các công cụ, phương tiện sử dụng ma túy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 02 (hai) bật lửa ga trong đó có 01 (một) cái màu đỏ và 01 (một) cái màu xanh, 01 (một) chiếc ví màu nâu không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xanh đen, biển kiểm soát: 29V7-519.82, số khung 215191, số máy 5213897: Quá trình điều tra xác

định là của bị cáo Nguyễn Văn T, bị cáo sử dụng làm phương tiện đi lại không trực tiếp liên quan việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đen trắng, biển kiểm soát: 29V5- 283.25, số khung 072181, số máy 072247, đã qua sử dụng: Quá trình điều tra xác định là của ông Đặng Văn Đ là bố đẻ bị cáo D1. Ông Đ cho D1 mượn để sử dụng, không biết việc D1 sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại cho ông Đ.

Đối với 01 (một) điện thoại Iphone, vỏ màu xám, số Imei 1: 353833105924333, số Imei 2: 353833105877606, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động Samsung vỏ màu đen, số Imei 1: 358475776103246/01, số Imei 2: 359111896103241/01, đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động Oppo, vỏ màu hồng, số Imei 1: 868638037698832, số Imei 2: 868638037698824, đã qua sử dụng: Đây đều là phương tiện các bị cáo dùng để liên lạc phục vụ việc sử dụng trái phép chất ma túy nên cần tịch thu, phát mại sung quỹ nhà nước.

Đối với số tiền: 1.750.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn T là tài sản riêng của T nên cần trả lại cho bị cáo.

[6]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T: 07 (B) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày 25/6/2024.

    Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Đặng Công D1: 02 (H2) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày 25/6/2024.

  2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) hộp giấy được niêm phong dán kín bên ngoài có chữ ký của đối tượng Nguyễn Văn T, Đặng Công D1, Đào Văn N, cán bộ Công an thị xã S - Nguyễn Đức C, giám định viên phòng PC 09 - Trần Huy V; 02 (hai) bật lửa ga trong đó có 01 (một) cái màu đỏ và 01 (một) cái màu xanh; 01 (một) chiếc ví màu nâu;
    • Trả lại cho ông Đặng Văn Đ: 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đen trắng, biển kiểm soát: 29V5- 283.25, số khung 072181, số máy 072247, đã qua sử dụng.
    • Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T: 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xanh đen, biển kiểm soát: 29V7-519.82, số khung 215191, số máy 5213897; Số tiền 1.750.000 (Một triệu bảy trăm năm mươi nghìn) đồng.
    • Tịch thu, phát mại sung quỹ nhà nước : 01 (một) điện thoại Iphone, vỏ màu xám, số Imei 1: 353833105924333, số Imei 2: 353833105877606, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động Samsung vỏ màu đen, số Imei 1: 358475776103246/01,

số Imei 2: 359111896103241/01, đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động Oppo, vỏ màu hồng, số Imei 1: 868638037698832, số Imei 2: 868638037698824, đã qua sử dụng

(Theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 14/11/2024 giữa Công an thị xã S và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây và Ủy nhiệm chi số: 153 ngày 18/11/2024 của Công an thị xã S tại Kho bạc Nhà nước thị xã S).

  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo Nguyễn Văn T, Đặng Công D1 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự các bị cáo, người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo nhưng vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân TP Hà Nội;
  • - Viện KSND TX Sơn Tây;
  • - Công an TX Sơn Tây;
  • - Chi cục THADS TX Sơn Tây;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Hoàng Đức Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 111/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger