Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG HƯNG

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:111/2024/HSST

Ngày 23/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Lan Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hà Huy Khoa

2. Ông Vũ Hữu Quang

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

Đại diện VKSND huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà:

Ông Trần Mạnh T - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 109/2024/TLST- HS ngày 03 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đào Trọng M, sinh năm 1998; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Đào Trọng T1, Con bà: Nguyễn Thị N; Vợ: Phùng Thị A; Con: 01 con; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tham gia nghĩa vụ quân sự từ tháng 02/2017 đến tháng 5/2019 xuất ngũ về địa phương.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/6/2024 đến ngày 15/6/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an huyện Đ.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến:

1. Ông Nguyễn Thái H, sinh năm 1972

2. Ông Phạm Mạnh C, sinh năm 1953,

Đ cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình

(Tại phiên tòa vắng mặt ông H, ông C)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đào Trọng M là người sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 23 giờ ngày 08/6/2024, M đi bộ từ nhà ra trục đường xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình đi taxi của một người đàn ông không quen biết sang khu vực cầu Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình để mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến nơi, M xuống taxi, đi bộ một mình thì gặp một người phụ nữ khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ đang đứng ven Q, thuộc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình mua 1.000.000 đồng được 02 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu xanh, bên trong đều chứa ma túy đá. M cầm 02 túi ma túy đá cất vào túi quần bên trái phía trước đang mặc sau đó đi bộ quay về phía ngã ba có đèn tín hiệu giao thông tìm thuê taxi để đi về nhà. Khi M đang đi bộ trên trục đường Q thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình thì lực lượng Công an đang làm nhiệm vụ đến, nghi ngờ M có liên quan đến ma túy nên yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của ông Nguyễn Thái H và ông Phạm Mạnh C, bị cáo M tự nguyện giao nộp từ túi quần bên trái phía trước đang mặc 02 túi nilon, M khai là ma túy đá mua về với mục đích sử dụng cho bản thân. Cơ quan điều tra đã niêm phong số ma túy và dẫn giải M về trụ sở Công an xã Đ, huyện Đ lập các biên bản theo quy định.

Bản kết luận giám định số 857/KL-KTHS ngày 13/6/2024 của Phòng K, Công an tỉnh T kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4028 gam.

Tại bản cáo trạng số 113/CT-VKSĐH ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Đào Trọng May về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà sơ thẩm:

Bị cáo Đào Trọng M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Đào Trọng M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

* Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2024.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định. Ngoài ra còn đề nghị án phí.

Bị cáo Đào Trọng M nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đến thời điểm xét xử đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa như:

  • - Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Bản ảnh vật chứng; Biên bản ghi lời khai của người chứng kiến là ông Nguyễn Thái H và ông Phạm Mạnh C.

Có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 09/6/2024 tại Quốc lộ A thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, Đào Trọng M có hành vi tàng trữ trái phép trên người 02 túi nilon ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4028 gam với mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

[3] Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước ta về quản lý chất ma túy, gây mất trật tự xã hội, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Hành vi của bị cáo thể hiện tính coi thường pháp luật. Vì vậy, cần xét xử bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy: Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội không có mục đích vụ lợi, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng:

  • - Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu huỷ.

[7] Về nguồn gốc ma túy: Đối với người bán ma túy, Đào Trọng M khai mua của một người phụ nữ khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ tại khu vực ven đường Q, gần cầu Đ, thuộc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Số tiền bị cáo mua ma tuý bị cáo khai do bị cáo lao động mà có.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[9] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Đào Trọng M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đào Trọng M 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ 0,3344 gam ma túy loại Methamphetamine thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định được đựng trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 857/KL- KTHS của Phòng K Công an tỉnh T.

(Được thể hiện chi tiết tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/10/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng)

4. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Đào Trọng M phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - TAND tỉnh Thái Bình;
  • - Sở tư pháp Thái Bình;
  • - VKSND huyện Đông Hưng;
  • - THADS huyện Đông Hưng;
  • - Công an huyện Đông Hưng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Lan Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HSST ngày 23/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 111/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đào Trọng M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger