|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 111/2024/HSST Ngày: 22/11/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thanh;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hòa.
Ông Phạm Thành Đô.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 114/2024/HSST ngày 31 tháng 10 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 224/2024/QĐXXST – HS ngày 08 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Minh H, sinh năm 1998, tại tỉnh Bình Phước.
Căn cước công dân số: [...]; cấp ngày 20/12/2022.
Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
Nghề nghiệp: Nhân viên văn phòng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh: giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh H1 và bà Ngô Thị Ánh K; tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/6/2024 đến nay, (có mặt).
- Bị hại: Công ty TNHH một thành viên C2 – chi nhánh B.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Hy V, sinh năm 1987, (vắng mặt).
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Cao T, sinh năm 1980, (có mặt).
Địa chỉ: Tổ C, khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Ngô Thị Ánh K, sinh năm 1970, (có mặt).
- Cao Trương Hoàng D, sinh năm 2005, (vắng mặt).
- Lâm Văn H2, sinh năm 1986, (vắng mặt).
- Chu Thị Y, sinh năm 1989, (vắng mặt).
- Phan Nguyễn Tuấn A, sinh năm 2004, (vắng mặt).
- Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1996, (vắng mặt).
- Trần Đức V1, sinh năm 2005, (vắng mặt).
- Nông Minh C, sinh năm 1997, (vắng mặt).
- Hà Trọng D1, sinh năm 2003, (vắng mặt).
- Liễu Văn T1, sinh năm 1995, (vắng mặt).
- Trần Chí D2, sinh năm 1996, (vắng mặt).
- Lương Thị Hồng T2, sinh năm 2002, (vắng mặt).
- Nguyễn Viết S, sinh năm 1989, (vắng mặt).
- Chu Anh Đ, sinh năm 1987, (vắng mặt).
- Nguyễn Văn T3, sinh năm 2001, (vắng mặt).
- Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1989, (vắng mặt).
- Đỗ Văn Q, sinh năm 1992, (vắng mặt).
- Trần Hoàng Đ1, sinh năm 2005, (vắng mặt).
- Nguyễn Chí C1, sinh năm 2001, (vắng mặt).
- Trần Thanh T4, sinh năm 1984, (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ: Xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ: Tổ dân phố 10, xã Phước Cát, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng
Địa chỉ: Thôn D, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ: Thôn E, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ: Thôn E, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ: Thôn E, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ: Thôn E, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ: Thôn I, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ: Thôn D, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ: Thôn F, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ: Thôn D, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ: Xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ: xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ: Khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 03/4/2024, Nguyễn Minh H vào làm việc tại Điểm kinh doanh Bưu cục chuyển phát nhanh J&T Đức Liễu trụ sở tại thôn B xã Đ và thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước thuộc Công ty TNHH MTV C2 – Chi nhánh B trụ sở chính tại số A, đường Đ, tổ E, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Trong quá trình làm việc tại Điểm kinh doanh Bưu cục chuyển phát nhanh J&T Đức Liễu, H giữ chức vụ Trưởng Bưu cục, nhiệm vụ chính do H đảm nhiệm theo quy định là thu nhận tiền thanh toán hàng hóa và tiền cước vận chuyển hàng hóa (viết tắt: Tiền COD) từ các nhân viên giao hàng của Bưu cục chuyển phát nhanh J&T Đức Liễu rồi gửi cho Công ty TNHH MTV C2 – Chi nhánh B thông qua số tài khoản P18BH1084000002197 thuộc Ngân hàng thương mại cổ phần N1. Trong khoảng thời gian từ ngày 31/5/2024 đến ngày 22/6/2024, H đã lợi dụng chức vụ với quyền hạn của mình để chiếm đoạt số tiền 272.704.083 đồng của Công ty TNHH MTV C2 – Chi nhánh B để phục vụ mục đích tiêu xài cá nhân, cụ thể như sau:
- Ngày 28/5/2024, nhân viên giao hàng của Bưu cục chuyển phát nhanh J&T Đức Liễu tên Nông Minh C, sinh năm: 1997, nơi thường trú: Thôn D, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước có nợ tiền thanh toán hàng hóa và tiền cước vận chuyển hàng hóa số tiền 35.690.327 đồng vì lý do C chở con đi khám bệnh nên chưa kịp nộp tiền. Đến ngày 31/5/2024, C đã nộp cho H toàn bộ số tiền 35.690.327 đồng. H chỉ chuyển về cho Công ty số tiền 12.014.000 đồng, còn số tiền 23.676.327 đồng, H chiếm đoạt giữ lại cho bản thân.
- Ngày 01/6/2024, nhân viên giao hàng của Bưu cục chuyển phát nhanh J&T Đức Liễu tên Trần Đức V1, sinh năm: 2005, nơi thường trú: thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước có nợ tiền thanh toán hàng hóa và tiền cước vận chuyển hàng hóa số tiền 29.228.669 đồng do V1 bị rớt mất bóp tiền. Đến ngày 02/6/2024, V1 đã khắc phục và đưa cho H toàn bộ số tiền 29.228.669 đồng. H không chuyển tiền về cho Công ty M chiếm đoạt hết số tiền 29.228.669 đồng.
- Vào ngày 04/06/2024, các nhân viên giao hàng của Bưu cục chuyển phát nhanh J&T Đức Liễu đã đưa đầy đủ cho H số tiền đã thu trong ngày 04/6/2024 được tổng cộng số tiền 57.446.650 đồng. H chỉ chuyển về cho Công ty số tiền 29.146.650 đồng, còn lại số tiền 28.300.000 đồng, H chiếm đoạt giữ lại cho bản thân.
- Vào ngày 05/06/2024, các nhân viên giao hàng của Bưu cục chuyển phát nhanh J&T Đức Liễu đã đưa đầy đủ cho H số tiền đã thu trong ngày 05/6/2024 được tổng cộng số tiền 45.697.505 đồng. H chỉ chuyển về cho Công ty số tiền 42.397.505 đồng, còn lại số tiền 3.300.000 đồng, H chiếm đoạt giữ lại cho bản thân.
- Vào ngày 08/06/2024, các nhân viên giao hàng của Bưu cục chuyển phát nhanh J&T Đức Liễu đã đưa đầy đủ cho H số tiền đã thu trong ngày 08/6/2024 được tổng cộng số tiền 69.439.148 đồng. H chỉ chuyển về cho Công ty số tiền 31.000.000 đồng, còn lại số tiền 38.439.148 đồng, H chiếm đoạt giữ lại cho bản thân.
- Vào ngày 09/06/2024, các nhân viên giao hàng của Bưu cục chuyển phát nhanh J&T Đức Liễu đã đưa đầy đủ cho H số tiền đã thu trong ngày 09/6/2024 được tổng cộng số tiền 72.743.840 đồng. Tuy nhiên H chỉ chuyển về cho Công ty số tiền 49.882.988 đồng, còn lại số tiền 22.860.852 đồng, H chiếm đoạt giữ lại cho bản thân.
- Vào ngày 11/06/2024, các nhân viên giao hàng của Bưu cục chuyển phát nhanh J&T Đức Liễu đã đưa đầy đủ cho H số tiền đã thu trong ngày 11/6/2024 được tổng cộng số tiền 81.944.194 đồng. H không chuyển tiền về cho Công ty M chiếm đoạt hết số tiền 81.944.194 đồng.
- Vào ngày 12/06/2024, các nhân viên giao hàng của Bưu cục chuyển phát nhanh J&T Đức Liễu đã đưa đầy đủ cho H số tiền đã thu trong ngày 12/6/2024 được tổng cộng số tiền 93.442.780 đồng. H chỉ chuyển về cho Công ty số tiền 90.295.719 đồng, còn lại số tiền 3.147.061 đồng, H chiếm đoạt giữ lại cho bản thân.
- Vào ngày 17/06/2024, các nhân viên giao hàng của Bưu cục chuyển phát nhanh J&T Đức Liễu đã đưa đầy đủ cho H số tiền đã thu trong ngày 17/6/2024 được tổng cộng số tiền 39.413.114 đồng. H chỉ chuyển về cho Công ty số tiền 31.366.924 đồng, còn lại số tiền 8.046.190 đồng, H chiếm đoạt giữ lại cho bản thân.
- Vào ngày 18/06/2024, các nhân viên giao hàng của Bưu cục chuyển phát nhanh J&T Đức Liễu đã đưa đầy đủ cho H số tiền đã thu trong ngày 18/6/2024 được tổng cộng số tiền 25.588.503 đồng. H chỉ chuyển về cho Công ty số tiền 15.258.584 đồng, còn lại số tiền 10.329.919 đồng, H chiếm đoạt giữ lại cho bản thân.
- Vào ngày 19/06/2024, các nhân viên giao hàng của Bưu cục chuyển phát nhanh J&T Đức Liễu đã đưa đầy đủ cho H số tiền đã thu trong ngày 19/6/2024 được tổng cộng số tiền 39.931.723 đồng. H chỉ chuyển về cho Công ty số tiền 16.500.000 đồng, còn lại số tiền 23.431.723 đồng, H chiếm đoạt giữ lại cho bản thân.
Đến ngày 23/6/2024, H nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đã đến Cơ quan công an huyện B để đầu thú.
Trong quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Minh H đã khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội như nêu trên.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Minh H đã tác động bà Nguyễn Thị Ánh K1 bồi thường khắc phục hậu quả. Đại diện người bị hại đã nhân đủ tiền không có yêu cầu gì thêm về mặt dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại Cáo trạng số 116/CT –VKS.BĐ ngày 30/10/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Nguyễn Minh H về Tội tham ô tài sản, theo điểm c, d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm Tội tham ô tài sản.
Về hình phạt: Áp dụng c, d khoản 2 Điều 353, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H từ 04 đến 05 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng
Bị cáo Nguyễn Minh H thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Từ ngày 31/5/2024 đến ngày 19/6/2024, Nguyễn Minh H đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn là Trưởng bưu cục Điểm kinh doanh Bưu cục chuyển phát nhanh J&T Đức Liễu trụ sở tại thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước và thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước để nhiều lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền của Công ty TNHH MTV C2 – Chi nhánh B với tổng số tiền là 272.704.083 đồng.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm và hành vi phạm tội.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn Minh H đã phạm vào Tội tham ô tài sản theo điểm c, d khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Điều 353. Tội tham ô tài sản
“1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
6. Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà tham ô tài sản, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này”.
Như vậy, nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, vì muốn có tiền tiêu xài, bị cáo lợi dụng vào việc quản lý lỏng lẻo của người bị hại và chức vụ của mình được giao để chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của pháp nhân, đây là quyền về tài sản được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra, hành vi của bị cáo còn ảnh hưởng đến việc kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Minh H đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo đã trực tiếp bồi thường và tác động gia đình bồi thường thiệt hại, bị cáo là lao động chính trong gia đình, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét toàn bộ tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 353 thì bị cáo còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, do bị cáo không đảm nhận chức vụ và có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường và tác động mẹ bị cáo là bà Nguyễn Thị Ánh K1 bồi thường khắc phục hậu quả xong. Đại diện người bị hại đã nhân đủ tiền không có yêu cầu gì thêm về mặt dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Quan điểm xử lý vụ án của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm Tội tham ô tài sản.
Áp dụng c, d khoản 2 Điều 353, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 05 năm tù (năm năm tù), thời hạn tù tính từ ngày 23/6/2024.
[2] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Minh H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Khắc Thanh |
Bản án số 111/2024/HSST ngày 22/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước về tội tham ô tài sản
- Số bản án: 111/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tội tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh H, K2, Đ 353 Tham ô tài sản
