Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2024/HS-ST

Ngày 14 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Danh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn An;

Bà Đỗ Thị Kim Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bích Huệ – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 98/2024/TLST- HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra vụ án ra xét xử số 114/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị H, sinh ngày 06 tháng 12 năm 1974 tại xã D, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn Đ, xã D, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Đinh Thị V (đều đã chết); có chồng là Đinh Văn C1 và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/7/2024 đến ngày 29/7/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; hiện tại ngoại, “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 23/7/2024 Nguyễn Thị H đang bán bia và hàng tạp hóa tại nhà ở của H thì lần lượt có 02 người tự khai là Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1996, ở tổ dân phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc và Nguyễn Thị S, sinh năm 1990 ở thôn Q, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc đi đến và đặt vấn đề hỏi mua các số lô, số đề, H đồng ý. Việc tính thắng thua dựa vào kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng vào lúc 18 giờ 15 phút hàng ngày. H và Đ, S thỏa thuận cụ thể:

Số lô: Là số có hai chữ số tự nhiên từ 0 đến 9 được ghép lại với nhau, sau đó so sánh với hai số cuối của tất cả các giải từ giải đặc biệt đến giải 7 trong kết quả xổ số kiến thiết miền B, nếu trùng với số lô đã mua thì người mua số lô đó thắng bạc, nếu không trùng với số lô đã mua thì người mua bị thua, quy ước mua 1 điểm lô là 22.000 đồng, nếu người mua số lô thắng thì H phải trả số tiền là 80.000 đồng/1 điểm lô. Số đề: Là số có hai chữ số ghép lại với nhau từ các số từ 0 đến 9, sau đó so sánh với hai số cuối của giải đặc biệt trong kết quả mở thưởng của xổ số kiến thiết miền B, nếu người mua trúng số đề, H phải trả cho người đó gấp 70 lần số tiền mà họ bỏ ra mua số đề. Số đề có 3 số trùng với 03 số cuối của giải đặc biệt thì tỷ lệ gấp 400 lần số tiền khách bỏ ra mua nếu trúng.

Nguyễn Văn Đ mua số lô, số đề của H gồm: 03 số lô 62, 66, 68 mỗi số 50 điểm = 150 điểm, H tính giá 22.200 đồng/01 điểm, tính thành tiền là 3.330.000 đồng và 03 số đề gồm 67, 68 mỗi số 100.000 đồng = 200.000 đồng và 66 = 20.000 đồng, tổng tiền đề là 220.000 đồng. H đã chiết khấu 20% tiền mua đề cho Đ nên Đ chỉ trả số tiền đề là 176.000 đồng, làm tròn thu thành 180.000 đồng. Sau khi thỏa thuận xong, Đ viết các số lô, đề vào 01 mảnh giấy xé ra từ vỏ bao thuốc lá (gọi là cáp lô đề) đưa cho H giữ và trả cho H số tiền 3.510.000 đồng. Sau đó H cũng ghi lại các số lô, đề do Đ mua vào 01 mảnh giấy xé từ vỏ bao thuốc lá Thăng L đưa Đại để đối chiếu thắng thua. Tổng số tiền Đ mua số lô, số đề của H là 3.550.000 đồng.

Nguyễn Thị S mua số lô, số đề của H gồm 05 số lô 96, 69, 63, 77, 99 mỗi số 20 điểm, tổng là 100 điểm, với giá 22.200 đồng/01 điểm, tính thành tiền là 2.220.000 đồng và 02 số đề 25, 52 mỗi số 100.000 đồng, tổng là 200.000 đồng. H đã chiết khấu 20% tiền mua đề cho S nên S chỉ trả số tiền đề là 160.000 đồng. Sau đó S viết các số lô, đề vào 01 mảnh giấy (gọi là cáp lô đề) đưa cho H giữ và trả cho H số tiền 2.380.000 đồng. Sau đó H cũng ghi lại các số lô, đề do S mua vào 01 mảnh giấy để đối chiếu thắng thua. Tổng số tiền S mua số lô, số đề của H là 2.420.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Thị S đánh bạc bằng hình thức mua số lô, số đề với H là 3.550.000 đồng + 2.420.000 đồng = 5.970.000 đồng.

Sau khi H bán các số lô, số đề cho Đ và S thì bị Tổ công tác của Công an tỉnh V kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang. Vật chứng thu giữ gồm: Số tiền: 5.890.000 đồng thu trên người của Nguyễn Thị H; 02 mảnh giấy thu trên tay của Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Thị S; 02 mảnh giấy thu trên tay của Nguyễn Thị H; số tiền 80.000 đồng gồm thu của Đ 40.000 đồng và của S 40.000 đồng là tiền H triết khấu khi mua số đề của H.

Tại bản Cáo trạng số 109/CT-VKS-P2 ngày 09 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm đến 01 năm 06 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Phạt bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng sung quỹ nhà nước.

Về vật chứng vụ án: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 5.970.000 đồng được sử dụng vào việc phạm tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc. Bị cáo khai nhận vào hồi 17 giờ 30 phút ngày 23/7/2024 Nguyễn Thị H đã bán số lô, số đề cho hai đối tượng tự xưng là Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Thị S thì bị Công an tỉnh V bắt quả tang người cùng tang vật. Tổng số tiền bị cáo bán số lô, số đề là 5.970.000 đồng (Năm triệu chín trăm bảy mươi nghìn đồng).

[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận hành vi bán số lô, số đề cho hai đối tượng tự xưng là Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Thị S của bị cáo Nguyễn Thị H đã phạm vào tội “Đánh bạc”; tội danh được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[4] Xét tính chất vụ án tuy ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Thị H được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

Bị cáo Nguyễn Thị H có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định rõ ràng, phạm tội lần đầu, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ đáng được khoan hồng và có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Thấy rằng, bị cáo có khả năng tự cải tạo tại địa phương và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội nên không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú, giám sát, giáo dục như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đủ để răn đe và phòng ngừa chung cũng như tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội được tự cải tạo, sửa chữa sai lầm và tiếp tục lao động chăm lo cho gia đình.

[6] Về hình phạt bổ sung: Tại phiên tòa xác định được bị cáo có tài sản, thu nhập nên cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

[7] Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 5.970.000 đồng (gồm số tiền 5.890.000 đồng thu giữ của H và 80.000 đồng thu giữ của 02 đối tượng tự xưng là Đ và S) là tiền sử dụng vào việc phạm tội.

[8] Đối với các đối tượng tự xưng là Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Thị S mua số lô, số đề của bị cáo, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

[9] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thị H cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Phạt bị cáo Nguyễn Thị H số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước số tiền 5.970.000 đồng (Năm triệu chín trăm bảy mươi nghìn đồng) sử dụng vào việc phạm tội.

Toàn bộ số tiền bị tịch thu đang do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc giữ theo biên bản ngày 13 tháng 11 năm 2024.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh phúc;
  • - Phòng Hồ sơ - CA tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Bị cáo;
  • - UBND xã Duy Phiên, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Lưu: Hồ sơ, Phòng HC-TP, Tòa Hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thanh Danh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 111/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H phạm tội "Đánh bạc"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger