|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH Bản án số: 111/2024/HS-ST Ngày 12-11-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thọ Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Văn Hoa Vinh;
- Ông Tống Đức Hưởng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trung Thành - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 107/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Văn T, sinh ngày 28/10/1994, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Q và bà Trịnh Thị T1; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự: Ngày 10/11/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định số: 71/QĐ-TA, về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng, đã chấp hành xong ngày 09/10/2022; nhân thân: Ngày 11/11/2022 bị Trưởng Công an xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh xử phạt hành chính 1.750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, đã chấp hành việc nộp phạt ngày 14/11/2022; bị bắt và tạm giữ từ ngày 26/6/2024 đến ngày 04/7/2024 chuyển tạm giam cho đến nay, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trịnh Thị T1, sinh năm 1973; cư trú tại: Tổ H, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy, khoảng 10 giờ 25 phút ngày 26/6/2024, Trần Văn T sử dụng điện thoại di động liên lạc qua ứng dụng Messenger tên tài khoản “Cô Độc” gặp người tên H (không rõ họ tên, địa chỉ) hỏi mua 200.000 đồng ma tuý để sử dụng, T trả số tiền mua ma tuý trên bằng cách giao cho H 01 thẻ cào điện thoại Viettel mệnh giá 100.000 đồng và nợ H 100.000 đồng. H đồng ý bán và hẹn T đến khu vực ngã tư T, thuộc xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh hướng về Hồ Dầu T2 tại khu vực rẫy cao su gặp H để nhận ma tuý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển số 70F1- 9185 đến điểm hẹn gặp H mua 01 bịch nylon bên trong có chứa ma tuý. Sau khi mua được ma tuý, T cất giấu vào bên trong túi quần dài phía trước bên phải rồi điều khiển xe mô tô về nhà. Khi T đến trước quán cà phê không biển hiệu, thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, thì bị lực lượng Công an xã T, huyện T kiểm tra, qua kiểm tra phát hiện T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Trần Văn T đã khai nhận rõ toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Kết quả xét nghiệm chất ma tuý ngày 26/6/2024 đối với Trần Văn T thể hiện T dương tính với chất ma tuý loại Methamphetamine.
* Tại Kết luận giám định số: 1291/KL-KTHS ngày 03/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M) bên trong 01 (một) bịch nylon gửi đến giám định là chất ma tuý; loại Methamphetamine; khối lượng 0,5922 gam. H1 lại đối tượng giám định: Đối tượng M: 0,5282 gam, còn lại được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Trợ lý giám định.
* Kết quả kê biên tài sản: Qua xác minh tài sản Trần Văn T không có tài sản riêng có giá trị nên không tiến hành kê biên.
Tại Bản cáo trạng số 111/CT-VKSTC, ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn T mức án từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù.
- - Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Trần Văn T.
- - Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
- - Bị cáo Trần Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, không có ý kiến tranh luận.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Trịnh Thị T1: Trình bày ý kiến là có nguyện vọng được nhận lại chiếc xe Dream để làm phương tiện đi lại.
- Lời nói sau cùng của bị cáo Trần Văn T: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi của bị cáo thể hiện: Vào lúc 11 giờ 20 phút, ngày 26/6/2024 tại khu vực phía trước quán cà phê không biển hiệu thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Trần Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,5922 gam để trong túi quần dài phía trước bên phải của mình với mục đích để sử dụng. Thì bị Công an xã T, huyện T kiểm tra hành chính phát hiện bắt giữ cùng với tang vật. Hành vi của bị cáo Trần Văn T đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Do đó Bản cáo trạng số 111/CT-VKSTC ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Ma túy là loại chất độc dược gây nghiện nên Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm việc trồng, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, sử dụng trái phép, nên hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển của con người, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương, nên cần có mức án nghiêm khắc tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[4] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
4.1 Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không có tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự.
4.2 Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo T thành khẩn khai báo đối với hành vi phạm tội của mình. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Nhân thân: Bị cáo T có một tiền sự về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng và bị xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, nay còn thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý thể hiện ý thức coi thường pháp luật.
[6] Xét tính chất, mức độ hành vi, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo cần áp dụng hình phạt chính là phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo Trần Văn T ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để có điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa xét thấy bị cáo Trần Văn T không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Xử lý vật chứng:
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen, số I (khe cắm thẻ sim 2): 865647063365680 là phương tiện bị cáo T sử dụng liên lạc để mua ma túy về sử dụng, nên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước;
- + 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1291 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết M, Trợ lý giám định Tạ Minh P và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có 01 (một) bịch ny lon chứa chất tinh thể rắn màu trắng (kí hiệu M) là Methamphetamine có khối lượng 0,5282 (không phẩy năm nghìn hai trăm tám mươi hai) gam là số ma túy còn lại sau giám định là vật chứng của vụ án nên tịch thu tiêu hủy.
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: LONCIN, số khung: WE110C0*125393*, số máy: LC1P50FMH*Y0125393* đã qua sử dụng, là tài sản hợp pháp của bà T1, khi bị cáo T sử dụng đi mua ma túy về sử dụng bà T1 không biết, nên cần tuyên trả cho bà Trịnh Thị T1;
- + 01 (một) biển số xe 70F1- 9185 không được cấp cho chiếc xe Dream, là biển số giả do không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[9] Đối với đối tượng tên H sử dụng tài khoản Fakebook “Cô độc” liên lạc qua Messenger bán ma túy cho bị cáo T, hiện đang bỏ trốn chưa làm việc được khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.
[10] Về án phí: Bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 26/6/2024.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1291 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết M, Trợ lý giám định Tạ Minh Pu tròn màu đỏ của Phòng Kng an tỉnh T, bên trong có một bịch ny lon chứa chất tinh thể rắn màu trắng (kí hiệu M) là Methamphetamine có khối lượng 0,5282 (không phẩy năm nghìn hai trăm tám mươi hai) gam;
- + 01 (một) biển số xe 70F1- 9185.
- - Trả cho bà Trịnh Thị T1: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: LONCIN, số khung: WE110C0*125393*, số máy: LC1P50FMH*Y0125393* đã qua sử dụng.
- - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước:
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi, màu đen, số I cắm thẻ sim 2): 865647063365680, đã qua sử dụng.
- (Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh).
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Bị cáo Trần Văn T chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn T, bà Trịnh Thị T1 quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thọ Cường |
Bản án số 111/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 111/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy
