Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN B

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:111/2024/HS-ST

Ngày: 07-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Tươi

Ông Bùi Quốc Lệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 112/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Phan Tuấn T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 01/01/1992, tại Hậu Giang; Nơi cư trú: Ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan Văn K và bà Nguyễn Thị D; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Quyết định số 534/2022/QĐ-TA ngày 01/11/2022, TAND quận Bình Tân, TP Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 10/5/2024.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/6/2024 đến ngày 02/7/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an huyện B. (có mặt).

2. Ngô Thanh H, tên gọi khác: không, sinh ngày 31/5/2000, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ĐKTT: 39/19 N, phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở hiện nay: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 (chết) và bà Ngô Thanh N; chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: Quyết định số 184/2023/QĐ-TA ngày 21/02/2023, TAND quận Bình Tân, TP Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 10/5/2024.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/6/2024 đến ngày 02/7/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an huyện B. Có mặt;

- Bị hại: Nguyễn Hoàng Phủ Đ, sinh năm 1995 (có mặt);

Địa chỉ: Ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Phạm Ngọc H1, sinh năm 1989 (vắng mặt);
  2. Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

  3. Trương Văn P, sinh năm 1985 (vắng mặt);
  4. Địa chỉ: Số A lầu A T, phường A, quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Tuấn T và Ngô Thanh H quen biết nhau khi cùng chấp hành cai nghiện ma tuý bắt buộc, khoảng 16 giờ ngày 23/6/2024, T gặp H tại Công viên P thuộc Thành phố Hồ Chí Minh, T rủ H đi trộm xe môtô bán chia tiền tiêu xài, thì Hiệp đồng ý. H điều khiển xe môtô loại Wave Blade màu xanh đen, biển số 59L2-102.91 chở T đi từ Công viên P hướng về tỉnh Long An, khi đi ngang qua Cửa hàng M thuộc Khu phố I, thị trấn B, huyện B, T quan sát thấy xe môtô nhãn hiệu Honda loại Wave Alpha màu xanh, biển số 62M1-72746 của anh Nguyễn Hoàng Phủ Đ đậu phía trước, xe còn cấm chìa khoá trên ổ khoá, đầu xe hướng vào trong đuôi xe hướng ra đường P, cách làn đường khoảng 01-02m, không người trong coi, nên T chỉ H trộm xe. H điều khiển xe chở T dừng xe lại cặp đường cách vị trí xe môtô biển số 62M1-72746 khoảng 03m, H ngồi trên xe môtô biển số 59L2-102.91 cảnh giới, còn T xuống xe đi bộ đến xe môtô biển số 62M1-72746 ngồi lên xe dùng chân xe đẩy lùi xe ra đường, mở khoá khởi động rồi điều khiển xe tẩu thoát về Thành phố Hồ Chí Minh, H điều khiển xe mô tô biển số 59L2-102.91 chạy theo phía sau. Khi đến đến vòng xoay P, T dừng lại mở cóp xe môtô biển số 62M1-72746 kiểm tra thì thấy giấy chứng nhận đăng ký xe của xe môtô biển số 62M1-72746 nên T điều khiển xe môtô biển số 62M1-72746 đến tiệm cầm đồ (không nhớ tên, địa chỉ) cầm xe được 8.000.000đ, T điện thoại cho H đến rước, T chia cho H 3.000.000đ, giữ lại 5.000.000đ. Ngày 24/6/2024, H điều khiển xe Wave Blade màu xanh đen, biển số 59L2-102.91 chở T đến địa phận huyện B thì lực lượng Công an huyện B kiểm tra mời làm việc, T và H đã tự nguyện khai nhận toàn bộ hành vi trộm xe của anh Đ.

Trong quá trình điều tra, CQĐT tạm giữ đồ vật và xử lý vật chứng như sau:

  • - 01 xe môtô Wave Blade màu xanh đen, biển số 59L2-10291 không số khung, số máy (CQĐT tiếp tục tạm giữ, xác minh để xử lý theo quy định).
  • - 01 điện thoại di động cảm ứng Vivo màu đen, 01 áo sơ mi dài tay màu xanh mạ, 01 áo thun ngắn tay màu đỏ sậm, 01 quần vải dài màu đen, 01 đôi dép quai ngang màu đen, in lôgô hình tròn, trên quai dép có chữ Gucci, 01 nón bảo hiểm màu trắng, họa tiết hình trái tim màu đỏ, in chữ My B - OMO dịu nhẹ trên da của Phan Tuấn T.
  • - 01 điện thoại di động cảm ứng Redmi màu xanh, 01 nón bảo hiểm màu xám, 01 đôi dép quai ngang sọc caro của Ngô Thanh H.

Đối với xe môtô Wave Alpha màu xanh, biển số 62M1-72746 Phan Tuấn T không cung cấp nơi cầm xe nên CQĐT không thu hồi được.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐĐG, ngày 27/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, định giá và kết luận: 01 xe môtô nhãn hiệu Honda loại Wave Alpha màu xanh, biển số 62M1-72746. tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 8.750.000đ.

Tại Bản Cáo trạng số 110/CT-VKSBL ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Phan Tuấn T và Ngô Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa, các bị cáo Phan Tuấn T và Ngô Thanh H hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận giám định, đồng thời không khiếu nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ y quan điểm như Cáo trạng đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Phan Tuấn T và Ngô Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt:

Bị cáo Phan Tuấn T mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.

Bị cáo Ngô Thanh H mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.

Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Phan Tuấn T và Ngô Thanh H theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Đề nghị giao CQĐT tiếp tục tạm giữ, xác minh để xử lý theo quy định 01 xe môtô Wave Blade màu xanh đen, biển số 59L2-10291 không số khung, số máy.
  • Đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
    • - 01 điện thoại di động cảm ứng Vivo màu đen.
    • - 01 điện thoại di động cảm ứng Redmi màu xanh.
  • Đề nghị tịch thu tiêu hủy:
    • - 01 áo sơ mi dài tay màu xanh mạ, 01 áo thun ngắn tay màu đỏ sậm, 01 quần vải dài màu đen, 01 đôi dép quai ngang màu đen, in lôgô hình tròn, trên quai dép có chữ Gucci, 01 nón bảo hiểm màu trắng, họa tiết hình trái tim màu đỏ, in chữ My B - OMO dịu nhẹ trên da của Phan Tuấn T.
    • - 01 nón bảo hiểm màu xám, 01 đôi dép quai ngang sọc caro của Ngô Thanh H.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Hoàng Phủ Đ yêu cầu các bị cáo Phan Tuấn T và Ngô Thanh H liên đới bồi thường 8.750.000đ. Trước Tòa các bị cáo đồng ý bồi thường nên đề nghị áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận buộc các bị cáo Phan Tuấn T và Ngô Thanh H liên đới bồi thường cho anh Nguyễn Hoàng Phủ Đ số tiền 8.750.000đ.

Về án phí: Buộc các bị cáo Phan Tuấn T và Ngô Thanh H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo biết hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về nội dung:

Lời khai nhận tội của các bị cáo Phan Tuấn T, Ngô Thanh H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trong quá trình điều tra, phù hợp với Bản ảnh hiện trường; phù hợp với bản kết luận về định giá tài sản số 37/KL-HĐĐG, ngày 27/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Long An và phù hợp với nội dung Bản cáo trạng: Thấy rằng, các bị cáo Phan Tuấn T và Ngô Thanh H là những người có tuổi đời còn trẻ, có đủ sức khỏe để học tập và lao động kiếm tiền nuôi sống bản thân, nhưng các bị cáo lại lười lao động, chỉ vì mục đích cá nhân muốn có tiền tiêu xài không phải bỏ công sức nên các bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của người khác đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân cụ thể:

Khoảng 18 giờ ngày 23/6/2024, bị cáo Phan Tuấn T rủ bị cáo Ngô Thanh H đi trộm xe mô tô bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, thì bị cáo Hiệp đồng Ý. Bị cáo H điều khiển xe môtô loại Wave Blade màu xanh đen, biển số 59L2-102.91 chở bị cáo T đến Cửa hàng M thuộc Khu phố I, thị trấn B, huyện B, các bị cáo T và H lén lút lấy trộm xe môtô nhãn hiệu Honda loại Wave Alpha màu xanh, biển số 62M1-72746 trị giá 8.750.000đ của anh Nguyễn Hoàng Phủ Đ đậu phía trước cửa hàng, sau đó các bị cáo T và H đem xe mô tô biển số 62M1-72746 cầm được 8.000.000₫ chia nhau tiêu xài hết. Ngày 24/6/2024, bị cáo H điều khiển xe Wave Blade màu xanh đen, biển số 59L2-102.91 chở bị cáo T đến địa phận huyện B thì lực lượng Công an huyện B kiểm tra mời làm việc, T và H đã tự nguyện khai nhận toàn bộ hành vi trộm xe của anh Đ.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Phan Tuấn T và Ngô Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Phan Tuấn T và Ngô Thanh H với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản mà các bị cáo Phan Tuấn T và Ngô Thanh H gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, quyền này được pháp luật hình sự bảo vệ, nếu người nào cố tình xâm hại thì sẽ bị pháp luật trừng phạt. Hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm hại trực tiếp đến tài sản đang thuộc sở hữu của bị hại, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương.

Đây là vụ án đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn không có phân công vai trò mà cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội cho đến khi bị bắt. Hành vi của các bị cáo cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, có mức án phù hợp, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng trừng phạt, giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung.

[5]. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho các bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5.1] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Phan Tuấn T và Ngô Thanh H phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo Phan Tuấn T và Ngô Thanh H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6]. Xét quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị xử phạt tù và mức hình phạt đối với các bị cáo Phan Tuấn T và Ngô Thanh H là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự và khoản 5 Điều 323 Bộ luật hình sự thì hành vi phạm tội của các bị cáo Phan Tuấn T và Ngô Thanh H còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 50.000.000đồng. Tuy nhiên, xét thấy theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[8]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - 01 xe môtô Wave Blade màu xanh đen, biển số 59L2-10291 không số khung, số máy các bị cáo Phan Tuấn T và Ngô Thanh H sử dụng làm phương tiện phạm tội, CQĐT Công an huyện B tạm giữ, xác minh xử lý theo quy định nên không xem xét.
  • - Biển số 59L2-102.91 qua xác minh là xe nhãn hiệu Honda loại SH Mode của anh Trương Văn P đã bán cho người không rõ họ tên, địa chỉ. Anh P không có yêu cầu gì trong vụ án nên không xem xét.
  • - 01 điện thoại di động cảm ứng Vivo màu đen của bị cáo Phan Tuấn T và 01 điện thoại di động cảm ứng Redmi màu xanh của bị cáo Ngô Thanh H liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
  • - 01 áo sơ mi dài tay màu xanh mạ, 01 áo thun ngắn tay màu đỏ sậm, 01 quần vải dài màu đen, 01 đôi dép quai ngang màu đen, in lôgô hình tròn, trên quai dép có chữ Gucci, 01 nón bảo hiểm màu trắng, họa tiết hình trái tim màu đỏ, in chữ My B - OMO dịu nhẹ trên da của Phan Tuấn T; 01 nón bảo hiểm màu xám, 01 đôi dép quai ngang sọc caro của bị cáo Ngô Thanh H, các bị cáo không yêu cầu nhận lại và không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với xe môtô Wave Alpha màu xanh, biển số 62M1-72746 của anh Phạm Ngọc H1 giao cho anh Đ đi giao hàng, các bị cáo Phan Tuấn T, Ngô Thanh H lấy trộm không cung cấp nơi cầm xe, CQĐT không thu hồi được nên không đề cập xem xét.

[9]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Hoàng Phủ Đ yêu cầu các bị cáo Phan Tuấn T và Ngô Thanh H liên đới bồi thường 8.750.000đ, hiện chưa bồi thường. Trước tòa các bị cáo đồng ý bồi thường nên buộc các bị cáo Phan Tuấn T và Ngô Thanh H liên đới bồi thường cho anh Nguyễn Hoàng Phủ Đ số tiền 8.750.000₫.

[11]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc các bị cáo Phan Tuấn T và Ngô Thanh H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Phan Tuấn T và Ngô Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 50 Bộ luật Hình sự;

    • - Xử phạt bị cáo Phan Tuấn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 24/6/2024.
    • - Xử phạt bị cáo Ngô Thanh H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 24/6/2024.
  3. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam các bị cáo Phan Tuấn T và Ngô Thanh H 45 ngày kể từ ngày tuyên án (07/11/2024) để đảm bảo thi hành án.
  4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động cảm ứng Vivo màu đen của bị cáo Phan Tuấn T và 01 điện thoại di động cảm ứng Redmi màu xanh của bị cáo Ngô Thanh H.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 áo sơ mi dài tay màu xanh mạ, 01 áo thun ngắn tay màu đỏ sậm, 01 quần vải dài màu đen, 01 đôi dép quai ngang màu đen, in logo hình tròn, trên quai dép có chữ Gucci, 01 nón bảo hiểm màu trắng, họa tiết hình trái tim màu đỏ, in chữ My B - OMO dịu nhẹ trên da; 01 nón bảo hiểm màu xám, 01 đôi dép quai ngang sọc caro.

    (Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện B quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21 tháng 10 năm 2024).

  5. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự: Buộc các bị cáo Phan Tuấn T và Ngô Thanh H liên đới bồi thường cho anh Nguyễn Hoàng Phủ Đ số tiền 8.750.000 đồng.
  6. Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

  7. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, 26 N ghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc các bị cáo Phan Tuấn T và Ngô Thanh H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và liên đới nộp 437.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
  8. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo Phan Tuấn T và Ngô Thanh H, bị hại có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

“Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án là 05 năm theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án."

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện B;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hậu Giang;
  • - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Bến Lức; B
  • - Chi cục Thi hánh án dân sự huyện B;
  • - Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Kim Thảnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 111/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Tuấn T và Ngô Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger