Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2024/HS-ST

Ngày: 30-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Ngọc Chín;
  2. Ông Đỗ Minh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 113/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2024/QĐXXST-HS ngày 17/10/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thu H, sinh ngày 02/7/1995 tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Tổ C, phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Bùi Thị D1; có chồng là Vũ Việt A và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Ngày 10/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố V khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Thu H. Khi thực hiện hành vi phạm tội H đang mang thai 24 tuần 6 ngày nên H được Cơ quan điều tra áp dụng biện pháp ngăn chặn - Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, (Có mặt);

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đào Quốc H1, sinh ngày 12/05/1979; Nơi cư trú: Khu M, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ ngày 05/7/2024 tổ công tác của Đội CSĐT tội phạm về ma túy - Công an thành phố V nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại nhà Nguyễn Thu H, sinh năm 1995, HKTT tại tổ C, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, H có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật, tụ tập mua bán trái phép chất ma túy với một số đối tượng, khoảng 18 giờ 10 phút ngày 05/7/2024 tổ công tác của Đội CSĐT tội phạm về ma túy - Công an thành phố V tiến hành kiểm tra và lập biên bản sự việc đối với Nguyễn Thu H. Quá trình kiểm tra, H tự giác vào phòng ngủ lấy 01 túi nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu đỏ, bên trong có 05 túi nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu đỏ cùng 01 đoạn ống nhựa màu đen được hàn kín hai đầu. Bên trong cả 05 túi nilon và 01 đoạn ống nhựa đều có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. H khai nhận đây là ma tuý đá của H, mục đích để bán. Tại chỗ, cơ quan Công an tiến hành tạm giữ, niêm phong số ma tuý trên. Ngoài ra, còn tạm giữ của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh đã cũ, số IMEI: 352990480009832 kèm 01 sim trong máy số 0923.709.555 và tiền Việt Nam 1.000.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V đã tiến hành kiểm tra xét nghiệm ma tuý bằng que thử nước tiểu đối với Nguyễn Thu H. Kết quả kiểm tra H âm tính với chất ma tuý (kết luận H không sử dụng chất ma tuý).

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V ra Quyết định trưng cầu giám định số 1184 ngày 06/07/2024 giám định chất ma túy trong mẫu vật thu giữ của Nguyễn Thu H. Tại Bản kết luận giám định số 938/KL - KTHS ngày 08/07/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P kết luận:

“Chất rắn dạng tinh thể chứa trong 05 túi nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm, viền màu đỏ và 01 đoạn ống nhựa màu đen được hàn kín hai đầu, toàn bộ đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm, viền màu đỏ trong bì niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 1,467 gam, chất Methamphetamine.

Methamphetamine: Số thứ tự 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”.

H2 lại đối tượng giám định là 1,103 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng là mẫu vật còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có đóng 03 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán.

Ngày 05/7/2024, Cơ quan điều tra thi hành lệnh khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của H. Quá trình khám xét không thu giữ được gì liên quan đến ma túy.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thu H đã tự khai nhận trước khi bị Cơ quan Công an kiểm tra và tạm giữ số ma tuý nêu trên, vào hồi 14 giờ ngày 04/07/2024 H đã bán 01 túi ma tuý đá cho Đào Quốc H1, sinh năm 1979, HKTT: Khu M, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ thu được số tiền 1.000.000 đồng.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ ngày 5/7/2024, nguồn gốc số ma túy Nguyễn Thu H bán cho Đào Quốc H1 và diễn biến hành vi phạm tội cụ thể như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 03/7/2024, Nguyễn Thu H một mình đi taxi của người không quen biết từ nhà xuống khu vực đê C, thuộc huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc tìm mua ma túy về để bán. Khi đến khu vực đê C, H bảo lái xe chờ và không nói cho người lái xe taxi biết H đi mua ma túy. H xuống xe, một mình đi bộ cách vị trí xe taxi đỗ khoảng 500 m thì gặp một người đàn ông không quen biết khoảng 40 tuổi giới thiệu tên là Đ. H hỏi và mua được của Đ 01 túi ma túy có đặc điểm là túi nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu đỏ bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma túy đá với giá 3.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy H đi bộ ra xe taxi bảo lái xe đưa về nhà, sau đó người lái xe đi đâu H không biết còn H vào nhà chia số ma túy mua được thành 07 phần, trong đó 06 phần ma túy H để vào 06 túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm viền màu đỏ, 01 phần ma túy còn lại H cho vào 01 đoạn ống nhựa màu đen hàn kín hai đầu rồi đúc cả 06 túi và đoạn ống nhựa chứa ma túy đá vào một túi ni lon màu trắng một đầu có khuy bấm viền màu đỏ cất giấu trong phòng ngủ của H mục đích có ai hỏi mua H sẽ bán với giá từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng/01 túi.

Đến khoảng 14 giờ ngày 04/7/2024, khi H đang ở nhà thì có Đào Quốc H1, sinh năm 1979, HKTT: Khu M, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ gọi điện thoại từ số 0977.987.xxx của H1 đến số 0923709555 của H để hỏi mua 1.000.000 đồng tiền ma túy đá. H đồng ý và bảo H1 chuyển tiền mua ma tuý vào tài khoản số 0923709555 của H mở tại Ngân hàng TMCP C (V). Đến hơn 15 giờ cùng ngày H1 chuyển tiền mua ma tuý vào tài khoản cho H. Sau khi nhận được tiền, H lấy 01 túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm viền màu đỏ bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma túy đá để ở gốc cây mít gần nhà H rồi gọi điện bảo H1 đến lấy. H1 đến vị trí trên, lấy túi ma túy đá đem về nhà sử dụng hết cho bản thân. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, khi H đang ở nhà thì bị tổ công tác Công an thành phố V đến kiểm tra, lập biên bản và thu giữ số ma túy cùng vật chứng như đã nêu trên.

Tại Cơ quan điều tra, Đào Quốc H1 đã thừa nhận việc mua 01 gói ma túy của H như đã nêu trên với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H1 đã sử dụng hết cho bản thân bằng hình thức hút trực tiếp vào cơ thể. Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra xét nghiệm ma túy bằng que thử nước tiểu đối với Đào Quốc H1. Kết quả dương tính, H1 có sử dụng chất ma túy. Đối với chiếc điện thoại di động của H1 dùng để liên lạc hỏi mua ma túy và thực hiện giao dịch chuyển khoản tiền mua ma túy của H, ngày 5/7/2024 H1 đã bị rơi mất khi đi lại trên đường, H1 không xác định được vị trí đánh rơi chiếc điện thoại ở đâu nên Cơ quan điều tra không có căn cứ rà soát, thu giữ.

Về nguyên nhân, điều kiện động cơ mục đích dẫn đến hành vi phạm tội: Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên Nguyễn Thu H đã mua bán trái phép chất ma túy để kiếm lời.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thu H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án và tự thú đối với hành vi bán ma túy cho Đào Quốc H1. Thời điểm thực hiện hành vi phạm tội cũng như hiện tại H đang mang thai.

Tại bản Cáo trạng số: 116/CT-VKS-VT ngày 07 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Thu H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thu H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

- Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm n,r,s khoản 1 Điều 51 Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thu H từ 25 (Hai mươi lăm) tháng đến 28 (Hai mươi tám) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

- Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh H không có tài sản riêng gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoảng 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 938/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả lại 1,103 gam chất rắn dạng tinh thể màu trằng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; 01 sim số 0923709555.

+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh đã cũ, số IMEII: 352990480009832; tiền Việt Nam 1.000.000₫ (một triệu đồng).

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Thu H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì khác về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi cấu thành tội phạm của bị cáo:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và vật chứng cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện như sau:

Hồi 18 giờ 10 phút ngày 05/7/2024, tại tổ C, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Thu H có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 1,467 gam ma tuý, loại Methamphetamine mục đích để bán thì bị tổ công tác Công an thành phố V kiểm tra, lập biên bản sự việc và thu giữ vật chứng. Ngoài ra, vào hồi 15 giờ ngày 04/7/2024, Nguyễn Thu H có hành vi bán trái phép 01 túi ma túy loại Methamphetamine cho Đào Quốc H1 thu lời 1.000.000 đồng, sau khi mua được ma túy H1 đã sử dụng hết nên Cơ quan điều tra không xác định được khối lượng ma túy.

Hành vi của Nguyễn Thu H là hành vi nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Thu H đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự;

Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Xét, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội phạm nghiêm trọng do lỗi cố ý. Hành vi nêu trên của bị cáo không những đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo nhận được tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh trước pháp luật.

Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:

- Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo tự giác giao nộp 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 05 túi nilon và 01 đoạn ống nhựa đều có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, H khai nhận là ma tuý đá của H. Khi thực hiện hành vi phạm tội H đang mang thai 24 tuần 6 ngày. Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án nên bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội là phụ nữ đang mang thai, tự thú đã bán ma túy cho H1 và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm n, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian vừa đủ để bị cáo từ bỏ được ma túy và cải tạo thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội là phù hợp.

[4] Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh về điều kiện kinh tế của bị cáo H thì xác định ngoài tài sản khi bị thu giữ và đồ dùng sinh hoạt hàng ngày H không có tài sản riêng gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoảng 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

-Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 bì niêm phong số 938/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả lại 1,103 gam chất rắn dạng tinh thể màu trằng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định là phù hợp.
  • + 01 Sim số 0923709555 là sim của Nguyễn Thu H dùng để liên lạc hàng ngày và trao đổi mua bán ma tuý với H1 nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:

  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh đã cũ, số IMEII: 352990480009832 là điện thoại của Nguyễn Thu H dùng để liên lạc hàng ngày và trao đổi mua bán ma tuý với H1 nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp.
  • + Tiền Việt Nam 1.000.000đ (một triệu đồng) là tiền H bán ma tuý cho Đào Quốc H1 mà có nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[7] Về các vấn đề khác:

- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý ngày 05/7/2024 của Đào Quốc H1. Ngày 15/7/2024, Công an thành phố V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H1 bằng hình thức phạt tiền: 1.500.000 đồng. H1 đã nộp phạt ngày 17/7/2024 là phù hợp.

- Đối với người đàn ông tên Đ bán ma tuý cho H vào ngày 03/7/2024, do H không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, ngoài lời khai của H không có tài liệu nào khác chứng minh, nên Cơ quan điều tra không xác định được là phù hợp.

- Đối với người lái xe taxi chở H đi mua ma túy, H không biết họ tên, địa chỉ và hãng xe, biển số xe và H không nói cho họ biết H đi mua ma túy nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

[8] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề xuất về hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp với pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 38, điểm n, r, s khoản 1 Điều 51, khoản 1, Điều 251 Bộ luật hình sự; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a,b,c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a,b,c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thu H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

1. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thu H 25 (Hai mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thu H.

3. Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 938/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả lại 1,103 gam chất rắn dạng tinh thể màu trằng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; 01 sim số 0923709555.
  • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh đã cũ, số IMEII: 352990480009832; tiền Việt Nam 1.000.000đ (một triệu đồng).

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07/10/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an thành phố V và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì và theo Biên lai thu tiền số 0004804 ngày 07/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì).

- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thu H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND TP. Việt Trì;
  • - Công an TP.Việt Trì;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Chi cục THADS TP. Việt Trì;
  • - UBND nơi b/c cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu AV, HS.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Xuân Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 111/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị H bán ma túy trái phép
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger