Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2024/HS-ST

Ngày 30/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Ánh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lý Thúy Hà và bà Lý Thị Nhân

Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị L - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số 106/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2024/QĐXXST-HS ngày 16/9/2024, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Xuân T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 21/01/1992; Nơi thường trú: tổ dân phố E, phường H, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Nơi tạm trú: Thôn K, xã H, huyện N, tỉnh Tuyên Quang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Chức vụ trước khi phạm tội (đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn S, đã chết; Con bà: Nguyễn Thị T1, đã chết; Vợ: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1992 (đã ly hôn); Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2015; Anh chị em ruột: Có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư;

- Tiền án: Không;

- Tiền sự:

+ Ngày 26/6/2023, Công an phường H, thành phố T xử phạt 400.000 đồng về hành vi Gây mất trật tự công cộng ở khu dân cư theo Quyết định số 001483.

- Nhân thân: Không;

* Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt tại phiên tòa).

2. Lưu Văn Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 29/9/1988; Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Nơi ở hiện tại: Thôn

2

D, xã L, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Chức vụ trước khi phạm tội (đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lưu Văn B, sinh năm 1954; Con bà: Đỗ Thị N, sinh năm 1954; Vợ, con: Chưa có; Anh chị em ruột: Có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai;

- Tiền án: Không;

- Tiền sự:

+ Ngày 26/12/2023, Công an thành phố T xử phạt 6.500.000 đồng về hành vi Gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác theo Quyết định số 001828.

- Nhân thân: Không;

* Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt tại phiên tòa).

3. Nguyễn Văn H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 10/11/1998; Nơi cư trú: Thôn Q, xã P, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Nơi ở hiện tại: thôn D, xã L, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Chức vụ trước khi phạm tội (đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn H1, sinh năm 1960; Con bà: Nguyễn Thị M, đã chết; Vợ, con: Chưa có; Anh chị em ruột: Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.

- Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không;

* Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lưu Văn T3, sinh năm 1981;

Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 07/6/2024, Nguyễn Xuân T, trú tại tổ dân phố E, phường H, thành phố T (nơi tạm trú thôn K, xã H, huyện N, tỉnh Tuyên Quang) đi xe ô tô khách từ thành phố T đến bến xe khách tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma tuý về sử dụng và bán kiếm lời. Đến nơi, T gặp một người đàn ông tên H2 (không xác định được tên đệm, tuổi, địa chỉ) mua được 01 gói ma tuý tổng hợp (Methamphetamine) được gói bên ngoài bằng túi ni lông màu trắng, trên mép túi có đường viền màu đỏ, bên trong có 01 túi ni lông màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng với giá 2.000.000 đồng. Sau đó, T cất giấu gói ma túy vào túi quần đang mặc rồi đi xe ô tô khách về nhà tại tổ dân phố E, phường H, thành phố T. Về đến nhà, T lấy một phần ma túy trong gói ma túy vừa mua chia ra thành 03 gói nhỏ (đều được gói bằng túi ni lông màu trắng, trên mép có

3

rãnh khóa hàn kín) rồi cất cùng với gói ma túy ban đầu vào một túi ni lông màu trắng, trên túi có in hình, chữ, số nhiều màu và cất giấu tại vách tường trong phòng ngủ mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, T lấy 01 gói nhỏ ma tuý (được gói bằng túi ni lông màu trắng, trên mép có rãnh khóa hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng) ra sử dụng hết bằng hình thức đốt hút vào cơ thể.

Khoảng 01 giờ 15 phút ngày 11/6/2024, T đang ở nhà thì Lưu Văn Q, thường trú tại tổ dân phố A, phường T, thành phố T (nơi ở hiện tại: thôn D, xã L, thành phố T) sử dụng số điện thoại 0974.312.xxx gọi vào số điện thoại 0813.161.xxx của T hỏi mua 01 gói ma túy tổng hợp (Methamphetamine) giá 400.000 đồng. T đồng ý và cho Q số tài khoản ngân hàng để Q chuyển tiền mua ma túy. Sau khi Q chuyển số tiền 400.000 đồng từ tài khoản của Q số 19889989989999 mở tại ngân hàng thương mại cổ phần Q1 đến tài khoản của T số 0813161991 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 thì T hẹn Q đến nhà T để lấy ma túy. T lấy 01 gói nhỏ ma tuý (được gói bằng túi ni lông màu trắng, trên mép có rãnh khóa hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng) rồi gói thêm giấy bạc màu trắng bên ngoài và quấn một lớp băng dính màu vàng rồi mang ra cất giấu tại gốc cây Sấu trước cửa nhà T để bán cho Q.

Sau khi chuyển tiền mua ma tuý cho T, Q bảo Nguyễn Văn H, trú tại thôn Q, xã P, huyện K, tỉnh Hưng Yên (Là bạn của Q và ở cùng nhà Q tại thôn D, xã L, thành phố T) dùng xe mô tô nhãn hiệu Piaggio, biển số 29E1-679.18 (xe của Lưu Văn T3, trú tại tổ dân phố A, phường T, thành phố T – là anh trai của Q) chở Q đi đến nhà T mua ma tuý về để cùng nhau sử dụng, H đồng ý. Đến nơi, Q vào gặp T và được T chỉ chỗ cất giấu ma tuý tại gốc cây Sấu trước cửa nhà để Q tự đi lấy. Sau khi lấy được gói ma túy, Q cầm gói ma tuý trong lòng bàn tay trái rồi đi ra chỗ H đứng đợi. H điều khiển xe mô tô chở Q về nhà. Khi cả hai đi đến đoạn đường bê tông thuộc tổ dân phố E, phường H, thành phố T thì bị Tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T phát hiện, kiểm tra, Q tự nguyện giao nộp 01 gói ma túy (Methamphetamine) Q vừa mua của T. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với QH vào hồi 02 giờ 00 phút cùng ngày.

Hồi 09 giờ 20 phút ngày 11/6/2024, tổ công tác đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Xuân T, tại tổ dân phố E, phường H, thành phố T: Quá trình khám xét phát hiện và thu giữ tại phòng ngủ cuối nhà tại vị trí trên vách tường có 01 túi ni lông màu trắng, mặt trước nền vàng in hình và chữ nhiều màu đỏ, bên trong chứa 01 túi ni lông màu trắng có rãnh khóa hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng và 01 túi ni lông màu trắng trên mép túi có đường viền màu đỏ có rãnh khóa, bên trong có chứa 01 túi ni lông màu trắng có rãnh khóa được đóng kín trong cùng có chứa chất tinh thể màu trắng; trên bàn cạnh giường ngủ có 01 ống thủy tinh màu trắng một đầu hình cầu và thân hình trụ được uốn cong, 01 nắp nhựa màu đen trên nắp được gắn 02 ống hút nhựa màu xanh và màu tím, 01 điện thoại di động cảm ứng ASUS.

4

Ngày 11/6/2024 tiến hành xét nghiệm tìm chất ma tuý đối với Nguyễn Xuân T, Lưu Văn QNguyễn Văn H, kết quả (+) dương tính, có chất ma tuý trong cơ thể (Q khai đã sử dụng ma túy vào ngày 09/6/2024, nguồn gốc ma túy mua của người đàn ông không quen biết tại khu vực bến xe khách M, thành phố Hà Nội, H khai đã sử dụng ma túy vào ngày 08/6/2024, nguồn gốc ma túy mua của người đàn ông không quen biết tại khu vực bến xe khách tỉnh Hưng Yên).

Tại Kết luận giám định số số 813/KL-KTHS ngày 14/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Số chất tinh thể màu trắng thu giữ của Lưu Văn Q gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,208g (Không phẩy hai không tám gam).

- Tại Kết luận giám định số 814/KL-KTHS ngày 14/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Số chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Xuân T gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 2,634g (Hai phẩy sáu ba bốn gam).

Từ nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 107/CT-VKSTP ngày 14 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố các bị cáo: Nguyễn Xuân T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy đinh tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Lưu Văn QNguyễn Văn H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo: Nguyễn Xuân T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1, Điều 251 Bộ luật Hình sự. Lưu Văn QNguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Áp dụng khoản 1, Điều 251; điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 11/6/2024.

Áp dụng điểm c khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38, Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Lưu Văn Q từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 11/6/2024.

Áp dụng điểm c khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38, Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 01 (một ) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 11/6/2024.

- Truy thu của bị cáo Nguyễn Xuân T số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) do bị cáo phạm tội mà có.

5

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng khoản 5 điều 251 Bộ luật hình sự: Đề nghị phạt tiền bị cáo Nguyễn Xuân T từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 túi ni lông màu trắng, trên túi có in hình, chữ, số nhiều màu, bên trong chứa 01 túi ni lông màu trắng có rãnh khoá được đóng kín, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 01 túi ni lông màu trắng, trên mép túi có đường viền màu đỏ có rãnh khoá được đóng kín, bên trong chứa 01 túi ni lông màu trắng, có rãnh khoá được đóng kín chứa chất tinh thể màu trắng, sau khi thu mẫu giám định còn lại 2,584 gam cùng bao gói được niêm phong trong một phong bì giấy dán kín còn nguyên vẹn 01 ống thuỷ tinh màu trắng, một đầu ống thuỷ tinh có hình cầu, thân ống hình trụ được uốn cong; 01 nắp nhựa màu đen, trên nắp được gắn 02 ống hút bằng nhựa màu xanh và màu tím được niêm phong trong phong bì dán kín còn nguyên vẹn; 01 túi ni lông màu trắng, trên mép túi có rãnh khoá được đóng kín, bên ngoài là lớp giấy bạc màu trắng được quấn băng dính màu vàng, bên trong túi chứa chất tinh thể màu trắng sau khi thu mẫu giám định còn lại 0,158 gam cùng bao gói được niêm phong một phong bì giấy dán kín còn nguyên vẹn;

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, bên trong lắp 01 thẻ sim Vietel của bị cáo Lưu Văn Q;

Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu ASUS đã qua sử dụng cho Nguyễn Xuân T.

Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu PIAGGIO, biển số 29E1 - 679.18 cho anh Lưu Văn T3;

Tuyên án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo tiếp tục nhận tội, nội dung khai báo của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, không có tình tiết mới; các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận giám định của Phòng K - Công an tỉnh T; các bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lưu Văn T3 có nguyện vọng đề nghị HĐXX trả lại chiếc xe máy đã cho anh Lưu Văn Q mượn và không biết anh Lưu Văn Q sử dụng vào việc phạm tội.

Kết thúc phần tranh luận, các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo Nguyễn Văn T4, Lưu Văn QNguyễn Văn H đều nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

6

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân T, Lưu Văn QNguyễn Văn H: Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Xuân T, Lưu Văn QNguyễn Văn H thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, từ chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Hồi 01 giờ 30 phút ngày 11/6/2024, tại tổ dân phố E, phường H, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, Nguyễn Xuân T, trú tại tổ dân phố E, phường H, thành phố T (nơi tạm trú thôn K, xã H, huyện N, tỉnh Tuyên Quang) đã có hành vi bán trái phép 0,208 gam Methamphetamine cho Lưu Văn Q, thường trú tại tổ dân phố A, phường T, thành phố T (nơi ở hiện tại: thôn D, xã L, thành phố T). Ngoài ra Nguyễn Xuân T còn có hành vi tàng trữ 2,634 gam ma túy, loại Methamphetamine mục đích để bán.

Hồi 02 giờ 00 phút ngày 11/6/2024, tại tổ dân phố E, phường H, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, Lưu Văn Q, thường trú tại tổ dân phố A, phường T, thành phố T (nơi ở hiện tại: thôn D, xã L, thành phố T) và Nguyễn Văn H, trú tại thôn Q, xã P, huyện K, tỉnh Hưng Yên (nơi ở hiện tại: thôn D, xã L, thành phố T) đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,208 gam ma túy, loại Methamphetamine mục đích để sử dụng.

Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, tội phạm đã đạt, đã hoàn thành. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1, Điều 251 Bộ luật Hình sự. Và bị cáo Lưu Văn QNguyễn Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4]. Về hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương, các bị cáo là người không có việc làm ổn định cùng với đó là ý thức chấp hành pháp luật kém và là một trong những nguyên nhân thường gây ra các tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Riêng bị cáo Nguyễn Xuân T hoàn toàn nhận thức được

7

việc Mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình vi phạm. Vì vậy cần phải có mức hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo tại cơ sở giam giữ một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, có căn cứ.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Nguyễn Xuân T thực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý vì mục đích vụ lợi nên phạt tiền bị cáo số tiền là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).

[6]. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với 01 túi ni lông màu trắng, trên túi có in hình, chữ, số nhiều màu, bên trong chứa 01 túi ni lông màu trắng có rãnh khoá được đóng kín, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 01 túi ni lông màu trắng, trên mép túi có đường viền màu đỏ có rãnh khoá được đóng kín, bên trong chứa 01 túi ni lông màu trắng, có rãnh khoá được đóng kín chứa chất tinh thể màu trắng, sau khi thu mẫu giám định còn lại 2,584 gam cùng bao gói được niêm phong trong một phong bì giấy dán kín còn nguyên vẹn 01 ống thuỷ tinh màu trắng, một đầu ống thuỷ tinh có hình cầu, thân ống hình trụ được uốn cong; 01 nắp nhựa màu đen, trên nắp được gắn 02 ống hút bằng nhựa màu xanh và màu tím được niêm phong trong phong bì dán kín còn nguyên vẹn của bị cáo Nguyễn Xuân T; 01 túi ni lông màu trắng, trên mép túi có rãnh khoá được đóng kín, bên ngoài là lớp giấy bạc màu trắng được quấn băng dính màu vàng, bên trong túi chứa chất tinh thể màu trắng sau khi thu mẫu giám định còn lại 0,158 gam cùng bao gói được niêm phong một phong bì giấy dán kín còn nguyên vẹn của Lưu Văn Q đây là vật chứng của vụ án thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus của bị cáo Lưu Văn Q đã sử dụng vào việc phạm tôi nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu ASUS đã qua sử dụng của Nguyễn Xuân T bên trong lắp 01 thẻ sim Vietel không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân T;

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu PIAGGIO, biển số 29E1 - 679.18 của Lưu Văn T3 khi cho Lưu Văn Q mượn không biết anh Q sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho anh Lưu Văn T3;

- Truy thu của bị cáo Nguyễn Xuân T số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) do bị cáo phạm tội mà có.

8

[7]. Đối với người đàn ông tên H2 bán ma túy cho T ngày 07/6/2024, do không xác định được họ, tên đệm, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra làm rõ trong vụ án.

Đối với Lưu Văn T3 khi cho Q mượn xe mô tô biển số biển số 29E1-679.18, T3 không biết Q đi đâu, làm gì nên không xem xét xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Xuân T, Lưu Văn Q ngày 23/7/2024 Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 002030 và 002031 đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Nguyễn Văn H ngày 23/7/2024 Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 002170 hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng.

[8]. Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1, khoản 5, Điều 251; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Xuân T.

  • - Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 11/6/2024.
  • - Phạt tiền bị cáo Nguyễn Xuân T 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) sung quỹ nhà nước.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38, Điều Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lưu Văn QNguyễn Văn H;

  • - Tuyên bố các bị cáo Lưu Văn QNguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • - Xử phạt bị cáo Lưu Văn Q 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 11/6/2024.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 11/6/2024.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • * Tịch thu tiêu huỷ: 01 túi ni lông màu trắng, trên túi có in hình, chữ, số nhiều màu, bên trong chứa 01 túi ni lông màu trắng có rãnh khoá được đóng kín, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 01 túi ni lông màu trắng, trên mép túi có đường viền màu đỏ có rãnh khoá được đóng kín, bên trong chứa 01 túi ni lông màu trắng, có rãnh khoá được đóng kín chứa chất tinh thể màu trắng, sau khi thu mẫu giám định còn lại 2,584 gam cùng bao gói được niêm phong trong một phong bì giấy dán kín còn nguyên vẹn 01 ống thuỷ tinh màu trắng, một đầu ống thuỷ tinh có hình cầu, thân ống hình trụ

9

được uốn cong; 01 nắp nhựa màu đen, trên nắp được gắn 02 ống hút bằng nhựa màu xanh và màu tím được niêm phong trong phong bì dán kín còn nguyên vẹn của bị cáo Nguyễn Xuân T; 01 túi ni lông màu trắng, trên mép túi có rãnh khoá được đóng kín, bên ngoài là lớp giấy bạc màu trắng được quấn băng dính màu vàng, bên trong túi chứa chất tinh thể màu trắng sau khi thu mẫu giám định còn lại 0,158 gam cùng bao gói được niêm phong một phong bì giấy dán kín còn nguyên vẹn của Lưu Văn Q.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, bên trong lắp 01 thẻ sim Vietel của bị cáo Lưu Văn Q;

Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu ASUS đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Xuân T. Và 01 xe mô tô nhãn hiệu PIAGGIO, biển số 29E1 - 679.18 cho anh Lưu Văn T3.

Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang ngày 19/9/2024.

- Truy thu của bị cáo Nguyễn Xuân T số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng).

3. Căn cứ khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn H, Lưu Văn QNguyễn Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Lưu Văn QNguyễn Văn H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lưu Văn T3 được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - Công an tỉnh Tuyên Quang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND TP Tuyên Quang;
  • - Công an TP Tuyên Quang;
  • - Chi cục THADS TP. Tuyên Quang;
  • - Các bị cáo; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Hồ sơ vụ án hình sự + Lưu HS

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Công Ánh

10

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Thị Thảo – Lý Thị Nhân

Nguyễn Thị Thu Hà

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 111/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân Tùng và đồng phạm (Mua bá, tàng trữ trái phép chất ma túy)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger