Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 111/2024/HS-ST

Ngày 30 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lư Thị Châu Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Châu Hùng và ông Nguyễn Văn Bằng.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Trí, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lý Chí Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 94/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Quốc V (V), sinh năm 1991, tại thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: tổ G, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; quốc tịch; Việt Nam; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: đạo Phật; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: không; con ông Nguyễn Văn Ú (chết) và bà Lâm Thu H; vợ Nguyễn Thị Kim C (chết); có 01 người con, sinh năm 2016;

Tiền sự: không.

Tiền án:

  • Ngày 25/5/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 20/01/2020;
  • Ngày 25/02/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 13/10/2023.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 20/3/2024 tại Nhà tạm giữ - Công an huyện C, tỉnh An Giang cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Bùi Thị Diễm M, sinh năm 1990, tại thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: đạo Phật; trình độ văn hóa: 6/12; con ông Bùi Văn N (chết) và bà Võ Thị N1; chồng Nguyễn Văn H1, có 02 người con, lớn 2008, nhỏ 2010.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giam, từ ngày 20/3/2024 tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố C cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

3. Đinh Minh H2 (Xe Đạp), sinh năm 1995, tại thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: tổ H, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; giới tính: Nam; quốc tịch; Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: đạo Phật; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: không; con ông Đinh Văn Đ và bà Nguyễn Thị C1; chưa vợ con.

Tiền sự, tiền án: không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 20/3/2024 tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố C cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Ngô Thành N2, sinh năm 1994, địa chỉ: tổ A, khóm B, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
  • Bà Lâm Thu H, sinh năm 1970, địa chỉ: tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
  • Bà Bùi Thị Diễm M1, sinh năm 1997, địa chỉ: tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (có mặt);
  • Ông Đặng Hoàng Q, sinh năm 1993, địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người chứng kiến: Bà Võ Thị N1, sinh năm 1962 (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 20/3/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố C kết hợp cùng Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an tỉnh A và Công an phường C tiến hành kiểm tra hành chính nhà Bùi Thị Diễm M1, sinh năm 1997, tại tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. Tại thời điểm kiểm tra trong nhà gồm: Mừng, Võ Thị N1 (mẹ của M1), Bùi Thị Diễm M2 (chị ruột M1), Đinh Minh H2 (chung sống như vợ chồng với M), Nguyễn Quốc V, Ngô Thành N2. Qua kiểm tra phát hiện tại vị trí M, H2, V, N2 đang ngồi trên gác có nhiều dụng cụ để sử dụng ma túy. M, H2, V và N2 khai đang sử dụng ma túy nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Qua quá trình điều tra xác định: Khoảng 10 giờ ngày 19/3/2024, V điều khiển xe mô tô biển số 67D2 – 153.31 đến khu vực khóm V, phường N, thành phố C để gặp Lê Văn T mua 01 bịch ma túy đá, giá 1.800.000 đồng. V mang ma túy về nhà, sử dụng một ít, số ma túy còn lại Việt cất giấu trong túi quần. Khoảng 22 giờ cùng ngày, V mang theo túi ma túy đá đến nhà M1 để rủ M sử dụng ma túy (do M đang ở nhờ nhà của M1). Khi đến nhà của M1, V thấy M, H2 và N2 đang nói chuyện trên gác, V rủ cả ba cùng sử dụng ma túy chung thì cả ba đều đồng ý. H2 lấy dụng cụ sử dụng ma túy của H2 và M đang để trên đầu niệm (nơi H2 và M ngủ) ra để ở giữa, V lấy 01 ít ma túy ra để vào dụng cụ rồi cho tất cả cùng sử dụng chung. Đến khoảng 03 giờ ngày 20/3/2024, V cất số ma túy càng lại trong người rồi đi về nhà. Khoảng 10 giờ ngày 20/3/2024 V điều khiển xe mô tô biển số 67D2 – 153.31 tiếp tục đến nhà M1 để tổ chức sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.

Căn cứ Kết luận giám định số 512/KL - KTHS ngày 17/4/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A, kết luận: Mẫu nước tiểu của Nguyễn Quốc V, Bùi Thị Diễm M2, Đinh Minh H2, Ngô Thành N2 gửi giám định tìm thấy thành phần Methamphetamine

Vật chứng thu giữ: 02 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, 01 xe mô tô biển số 67D2 – 153.31 và nhiều đồ vật có liên quan

Tại Cáo trạng số 86/CT-VKSNDCĐ-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố Nguyễn Quốc V, Bùi Thị Diễm M, Đinh Minh H2 về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Quốc V, Bùi Thị Diễm M, Đinh Minh H2 đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan N2, H và Q vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Quốc V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm a, b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Bùi Thị Diễm M, Đinh Minh H2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b, h khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc V từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1, khoản 2; Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Thị Diễm M và Đinh Minh H2 từ 07 năm đến 08 năm tù cùng về tội “Tổ chức sử trái phép chất ma túy”

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy các đồ vật dụng cụ liên quan đến việc sử dụng ma túy, trả lại cho bà H xe mô tô biển số 67D2 – 135.31, tịch thu sung quỹ nhà nước 02 điện thoại di dộng nhãn hiệu Nokia.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng:

  • Đối với hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
  • Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[3] Về nội dung: Xét thấy lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố về thời gian, địa điểm và diễn biến về hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Ngoài ra, lời khai nhận của bị cáo còn phù hợp với lời khai người chứng kiến, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Cơ quan điều tra thu thập trong quá trình điều tra và được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Nguyễn Quốc V, Bùi Thị Diễm M và Đinh Văn D, Ngô Thành N2 đã có hành vi sử dụng trái phép trái phép chất ma túy bị bắt quả tang. Cụ thể, khoảng 10 giờ ngày 19/3/2024, V mua ma túy đá của Lê Văn T với số tiền 1.800.000 đồng, đã sử dụng một ít, khoảng 22 giờ cùng ngày V mang số ma túy đá còn lại đến nhà của M1 (nhà M ở nhờ) tổ chức sử dụng ma túy cùng Bùi Thị Diễm M, Đinh Văn D và Ngô Thành N2 và khoảng 10 ngày 20/3/2024 V tiếp tục đến nhà M1 để tổ chức sử dụng ma túy cùng Bùi Thị Diễm M, Đinh Văn D và Ngô Thành N2.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Quốc V đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm a, b, h khoản 2 Điều 255; hành vi của bị cáo Bùi Thị Diễm M, Đinh Minh H2 đã phạm vào tội “Tổ chức sư dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đều có khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác, gây tác hại rất lớn về nhiều mặt, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và công tác đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy tại địa phương. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Đối với bị cáo V đã có 02 tiền án: Ngày 25/5/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 20/01/2020 và ngày 25/02/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 13/10/2023. Do vậy lần phạm tội này bị cáo V phải chịu tình tiết tăng nặng định khung hình phạt là “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và truy tố, các bị cáo đã tự thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải các bị cáo thuộc thành phần lao động, học lực thấp, có trình độ hiểu biết pháp luật hạn chế. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ của vụ án là nghiêm trọng, hiện nay trên địa bàn thành phố C các tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng, các đối tượng ngày càng sử dụng nhiều các thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương và phát sinh ngày càng nhiều các loại tội phạm khác. Do đó, buộc các bị cáo hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết nên đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà hai bị cáo gây ra, đề nghị này được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về vai trò đồng phạm: Các bị cáo tự thực hiện hành vi tổ chức sử dụng ma túy, không có sự phân công vai trò cụ thể, mỗi bị cáo đều thực hiện hành vi độc lập bàn bạc với nhau nên thuộc trường hợp đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét thấy các bị cáo tổ chức sử dụng ma túy không có tính chất vụ lợi nên không cần phạt tiền đối với các bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo

[7] Về xử lý vật chứng:

  • 01 (một) xe mô tô biển số 67D2 – 153.31 trả lại cho bà Lâm Thu H
  • 02 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia tịch thu sung quỹ nhà nước.
  • Đồ vật có liên quan vào việc phạm tội cần tịch thu, tiêu hủy toàn bộ.

[8] Về các vấn đề khác:

Đối với Lê Văn T bán ma túy cho Nguyễn Quốc V hiện không có mặt tại địa phương, chưa làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Đối với Ngô Thành N2 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra giao cho địa phương để theo dõi quản lý là phù hợp.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo:

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quốc V, Bùi Thị Diễm M, Đinh Minh H2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;

Căn cứ vào điểm a, b, h khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc V 08 (tám) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam ngày 20/3/2024 (ngày hai mươi, tháng ba, năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).

Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Bùi Thị Diễm M 07 (bảy) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam ngày 20/3/2024 (ngày hai mươi, tháng ba, năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).

Xử phạt: Bị cáo Đinh Minh H2 07 (bảy) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam ngày 20/3/2024 (ngày hai mươi, tháng ba, năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).

Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu, tiêu hủy:

  • 01 (một) bình thủy tinh có hai lỗ nhỏ, một lỗ gắn ống hút nhựa màu đỏ, trắng bẻ cong (dụng cụ sử dụng);
  • 01 (một) kéo inox;
  • 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu đỏ, một đầu hàn kín, một đầu vạc nhọn;
  • 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu vàng, một đầu hàn kín, một đầu vạc nhọn;
  • 03 (ba) quẹt ga đã qua sử dụng;
  • 01 (một) ống thủy tinh uốn cong;
  • 01 (một) túi vải ghi chữ “Ki niem Da Lat”, bên trong có 24 (hai mươi bốn) bọc nylon trong suốt (dài 31cm, ngang 3,5cm).

- Tịch thu sung quỹ nhà nước:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, model: TA-1174 màu đen, số imei: 3531411112817007; imei 2: 353141117817002, không có sim (điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra được thực trạng bên trong);
  • 01 (một) điện thoại di dộng hiệu Nokia, model: TA-1034 màu đen, số imei: 355820095703387; imei 2: 354828093703382, có gắn sim V1 số: 89840; 48000; 92618; 9604 và som M3 số: 8401; 2108; 3325; 7300 (điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra thực trang bên trong).

- Trả lại cho bà Lâm Thu H 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, Exiter màu đỏ, đen, biển số 67D2 – 153.31, số máy: 222537; số khung 209623 (xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố châu Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Quốc V, Bùi Thị Diễm M, Đinh Minh H2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo Nguyễn Quốc V, Bùi Thị Diễm M, Đinh Minh H2; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời gian kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • Tòa án nhân dân tỉnh AG (1)
  • Viện KSND tỉnh AG (1);
  • Viện KSND thành phố (1);
  • Sở Tư pháp (1);
  • Nhà Tạm giữ (2);
  • Phòng hồ sơ (1);
  • Chi cục THADS thành phố (1);
  • Bộ phận THA Tòa án (1);
  • UBND cấp xã nơi BC cư trú (1);
  • Bị cáo;
  • Bị hại;
  • Người có QL-NV LQ;
  • Lưu hồ sơ;
  • Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lư Thị Châu Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 111/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo phạm tội tổ chức sử dụng trái chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger