Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2024/HS-ST

Ngày 30 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Văn Hân Em.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Minh Thắng và ông Trần Quang Thái.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Toà án nhân

dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên

tòa: Ông Lương Quốc Danh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn

xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 84/2024/TLST-HS ngày 11

tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QĐXXST-

HS ngày 16 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn L (Ba cây nhang), sinh ngày 17/4/2000. Nơi cư trú: ấp B,

xã B, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 3/12; dân

tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông

Nguyễn Văn H, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1961; anh, em

ruột có 03 người, bị cáo là người thứ ba; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự:

không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/7/2024 đến nay (có mặt).

Bị hại: ông Trần Vũ P, sinh năm 1974. Nơi cư trú: ấp T, xã B, huyện T,

tỉnh An Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Đỗ Thị O, sinh năm 1983.

Nơi cư trú: ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người làm chứng:

  1. Bà Trần Thị Thúy A (có mặt).
  2. Bà Trần Thị Tuyết N (vắng mặt).
  3. Ông Lưu Phước G (vắng mặt).
  4. Ông Phan Thành N1 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ ngày 01/7/2024, Nguyễn Văn L đi bộ đến khu vực Kênh F, thuộc ấp T, xã B, huyện T thấy xe mô tô biển số 67M1-038.02 của ông Trần Vũ Phương D trên bờ kênh, xung quanh không người trông coi. L đi đến sử dụng thanh đoản bằng kim loại, có một đầu dẹp cạy ổ khóa xe, nổ máy, điều khiển xe chạy về hướng huyện V, thành phố Cần Thơ thì bị bà Trần Thị Tuyết N (chị ruột của P) đang gặt lúa nhìn thấy, tri hô cho các ông Lưu Phước G, Phan Thành N1 điều khiển xe mô tô đuổi theo L đến khu vực đường X thuộc xã T, huyện V thì không đuổi kịp. L chạy thoát, sau đó mang xe trộm được đến tiệm sửa xe “Minh Thiền Fi” tại khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang bán cho bà Đỗ Thị O với giá 1.900.000 đồng, nhưng không cho O biết đây là tài sản lấy trộm mà có. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, biết hành vi lấy trộm xe mô tô của P bị phát hiện, L đến Công an xã B đầu thú và chỉ nơi tiêu thụ xe mô tô để lực lượng công an thu giữ.

Vật chứng thu giữ gồm có: xe mô tô biển số 67M1-038.02; một điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đỏ.

Ngày 24/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã trả lại cho ông Trần Vũ P xe mô tô biển số 67M1-038.02.

Tại Kết luận định giá tài sản số 36 ngày 02/7/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T, xác định: xe mô tô biển số 67M1-038.02 nhãn hiệu Honda loại Air Blade trị giá 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng).

Theo Phiếu xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 01/7/2024 của Công an xã B, huyện T, xác định: Nguyễn Văn L dương tính với Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số 89/CT-VKSTS ngày 10/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L (Ba cây nhang) về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguyễn Văn L khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Bị hại Trần Vũ P, người làm chứng Trần Thị Thúy A trình bày: ngày 01/7/2024, ông P dựng xe mô tô 67M1-038.02 trên bờ Kênh F, thuộc ấp T, xã B, huyện T rồi đi chăn vịt thì bị mất trộm như nội dung Cáo trạng đã nêu. Ông P đã nhận lại xe mô tô và không yêu cầu bồi thường dân sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị O; người làm chứng Trần Thị Tuyết N, Lưu Phước G, Phan Thành N1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra trình bày như nội dung Cáo trạng đã nêu. Bà O yêu cầu bị cáo L trả 1.900.000 đồng.

Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L mức án từ 06 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo L có trách nhiệm trả cho bà O số tiền 1.900.000 đồng. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 46, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, trả lại bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đỏ, số sê-ri: R8SGU8R4GMLBVGKJ.

Bị cáo nhất trí với bản luận tội nêu trên của đại diện Viện Kiểm sát, đồng thời không bào chữa bổ sung gì khác, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa bị hại ông Trần Vũ P, người làm chứng bà Trần Thị Thúy A có mặt; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị O và những người làm chứng khác vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ; các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận:

Ngày 01/7/2024, Nguyễn Văn L đã thực hiện hành vi lấy trộm xe mô tô biển số 67M1-038.02 của ông Trần Vũ P tại ấp T, xã B, huyện T, tỉnh An Giang. Trị giá tài sản chiếm đoạt là 6.000.000 đồng.

Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3] Hành vi phạm tội

của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, làm cho quần chúng nhân dân bất bình. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm để răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng

của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo Nguyễn Văn L là người trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng để có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà mình đã gây ra.

- Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

- Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã đầu thú, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét thấy, hiện tại trên địa bàn huyện T tội phạm trộm cắp tài sản có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương. Do đó, việc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội là cần thiết, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội. Mức hình phạt tù có thời hạn mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo đã gây ra, đề nghị này được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung:

theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, hiện điều kiện hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị O yêu cầu bị cáo L trả lại 1.900.000 đồng tiền mua xe mô tô. Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí trả cho bà O số tiền nêu trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà O, buộc bị cáo L trả cho bà O 1.900.000 đồng.

[7] Về xử lý vật chứng:

Đối với xe mô tô 67M1-038.02, quá trình điều tra đã trả lại cho bị hại và bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ, số sờ-ri: R8SGU8R4GMLBVGKJ thu giữ của bị cáo không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho bị cáo.

[8] Đối với hành vi

của bà Đỗ Thị O khi mua xe mô tô biển số 67M1-038.02 nhưng không biết do bị cáo phạm tội mà có nên chưa đủ căn cứ xử lý.

[9] Về các vấn đề khác:

bị cáo L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Ngoài ra, bị cáo L còn phải chịu án phí dân sự trong hình sự theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L (Ba cây nhang) phạm tội “Trộm cắp tài sản".

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 01 tháng 7 năm 2024).

Căn cứ Điều 46, Điều 47, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015: trả lại bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đỏ, số sê-ri: R8SGU8R4GMLBVGKJ, không có sim (đã qua sử dụng); buộc bị cáo Nguyễn Văn L trả cho bà Đỗ Thị O số tiền 1.900.000 đồng (một triệu chín trăm nghìn đồng).

(Đặc điểm theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh An Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang).

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Văn L còn phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự trong hình sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát tỉnh An Giang;
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát huyện Thoại Sơn;
  • - Chi cục THA DS huyện Thoại Sơn;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Hân Em

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 111/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn L phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger