TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 111/2024/HNGĐ-ST
Ngày 24/09/2024.
V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Bé Nhi
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lâm Thái Hiệp
2/ Bà Lê Thị Tuyết Trinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nhã Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Danh Đạt - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hồng Dân xét xử công khai vụ án thụ lý số: 196/2024/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 07 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 16 tháng 08 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị B, sinh năm 1990. (Có mặt)
Nơi ĐKHKTT: ấp NT, xã NQA, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.
Chỗ ở: ấp BD, xã LN, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1988.
Địa chỉ: ấp NT, xã NQA, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.
(Anh Nguyễn Văn Kh vắng mặt không lý do mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Chị Lê Thị B trình bày: Về hôn nhân: Chị B và anh Kh có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ninh Quới A, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu ngày 31/07/2012. Trong thời gian đầu, vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc, nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tình trạng hôn nhân trầm trọng, không thể kéo dài và hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng 03 tháng nay. Nay chị nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn Kh.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị B xác định giữa chị và anh Kh có 03 người con chung là cháu Nguyễn Thị Thu Th, sinh ngày 16/6/2007; cháu Nguyễn Thị Thu Ng, sinh ngày 28/10/2010 và cháu Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 30/04/2011. Hiện tại các cháu đang sống chung với chị B. Nay chị B xác định tuỳ theo nguyện vọng của cháu Nguyễn Thị Thu Th, sinh ngày 16/6/2007; cháu Nguyễn Thị Thu Ng, sinh ngày 28/10/2010 và cháu Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 30/04/2011 muốn theo ai thì người đó nuôi và người còn lại không phải cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Chị B không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, chị không có yêu cầu gì khác.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 15/07/2024, bị đơn anh Nguyễn Văn Kh trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Anh Kh và chị B có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ninh Quới A, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 31/07/2012. Trong thời gian đầu, vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do vợ anh đi lên nuôi con gái ở thành phố rồi bổng nhiên vợ anh không chịu về nhà, anh liên lạc vợ anh cũng không bắt máy, ngoài ra trong lúc nóng giận nên anh lỡ đánh con gái anh một bạc tay do cháu hỗn hào với anh, vì vậy vợ anh nóng giận nên hai vợ chồng anh cũng sống ly thân với nhau khoảng 03 tháng nay. Nay vợ anh yêu cầu ly hôn anh không đồng ý, anh muốn hàn gắn mối quan hệ vợ chồng.
Về con chung: Anh Kh xác định trong quá trình chung sống giữa anh và chị B có 03 người con chung là cháu Nguyễn Thị Thu Th, sinh ngày 16/6/2007; cháu Nguyễn Thị Thu Ng, sinh ngày 28/10/2010 và cháu Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 30/04/2011. Từ xưa đến giờ các cháu sống với vợ chồng anh nhưng cách đây khoảng 03 tháng thì các cháu sống chung với chị B. Anh Kh xác định tuỳ theo nguyện vọng của cháu Nguyễn Thị Thu Th muốn theo ai thì người đó nuôi và người còn lại không phải cấp dưỡng cho con. Anh yêu cầu được nuôi cháu Nguyễn Thị Thu Ng và cháu Nguyễn Thị Thu H và anh không yêu cầu cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Anh Kh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, anh không có yêu cầu gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi tham gia tố tụng cho đến nay, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Từ khi tham gia tố tụng cho đến nay, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Tại phiên tòa hôm nay bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị B được ly hôn anh Nguyễn Văn Kh.
- Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Thị Thu Th, sinh ngày 16/6/2007; cháu Nguyễn Thị Thu Ng, sinh ngày 28/10/2010 và cháu Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 30/04/2011 cho chị B nuôi dưỡng, anh Kh không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng anh có quyền và nghĩa vụ tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở;
- Về quan hệ tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Ngoài ra đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật: Chị Lê Thị B khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn Kh và yêu cầu giải quyết về con chung nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con” là đúng quy định.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Nguyễn Văn Kh có nơi đăng ký thường trú tại ấp NT, xã NQA, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[3] Bị đơn anh Nguyễn Văn Kh vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh Nguyễn Văn Kh.
Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Vào khoảng năm 2012, chị B và anh Kh có tổ chức đám cưới với nhau trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ninh Quới A, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nên quan hệ hôn nhân giữa chị B và anh Kh là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Chị B và anh Kh thống nhất xác định thời gian đầu vợ chồng anh chị sống hạnh phúc nhưng khoảng thời gian gần đây phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng 03 tháng nay. Nay chị B yêu cầu ly hôn với anh Kh thì anh Kh không đồng ý, anh Khởi muốn hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Xét thấy, hôn nhân gia đình được xây dựng trên nền tảng bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, nhưng giữa chị B và anh Kh lại phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không có tiếng nói chung và hiện tại đã sống ly thân với nhau. Mặt khác, quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã động viên chị B để hai bên hàn gắn tình cảm nhưng chị B vẫn kiên quyết ly hôn, còn anh Kh không đồng ý ly hôn nhưng anh không có biện pháp gì để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng và khi Toà án tiến hành hoà giải anh Kh lại vắng mặt, đồng thời tại phiên toà xét xử ngày hôm nay anh Kh vắng mặt lần thứ hai mặt dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ. Điều đó cho thấy mối quan hệ hôn nhân của chị B và anh Kh đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Bên cạnh đó, Tòa án cũng tiến hành xác minh đối với chính quyền địa phương được biết giữa chị B và anh Kh có phát sinh mâu thuẫn và hiện tại hai vợ chồng không còn sống chung với nhau khoảng 03 tháng nay. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình cho chị Lê Thị B được ly hôn với anh Nguyễn Văn Kh.
[5] Về quan hệ con chung: Chị B và anh Kh xác định trong quá trình chung sống giữa anh chị có 03 người con chung là cháu Nguyễn Thị Thu Th, sinh ngày 16/6/2007; cháu Nguyễn Thị Thu Ng, sinh ngày 28/10/2010 và cháu Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 30/04/2011. Hiện tại các cháu đang sống chung với chị B. Chị B xác định tùy theo nguyện vọng của các cháu muốn theo ai thì người đó nuôi và người còn lại không phải cấp dưỡng cho con. Anh Kh thì xác định tuỳ theo nguyện vọng của cháu Thảo muốn theo ai thì người đó nuôi và người còn lại không phải cấp dưỡng cho con, anh yêu cầu được nuôi cháu Ngọc và cháu Hà, anh không yêu cầu cấp dưỡng cho cháu Ngọc và cháu Hà. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Thảo, cháu Ngọc và cháu Hà hiện đang sống ổn định với chị B, đồng thời các cháu cũng có nguyện vọng được theo sống chung với chị B. Vì vây, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Nguyễn Thị Thu Th, sinh ngày 16/6/2007; cháu Nguyễn Thị Thu Ng, sinh ngày 28/10/2010 và cháu Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 30/04/2011 cho chị B nuôi dưỡng. Anh Kh không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng anh có quyền và nghĩa vụ tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
[6] Về quan hệ tài sản: Chị Lê Thị B và anh Nguyễn Văn Kh không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Lê Thị B phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị B.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị B được ly hôn anh Nguyễn Văn Kh.
- Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Thị Thu Th, sinh ngày 16/6/2007; cháu Nguyễn Thị Thu Ng, sinh ngày 28/10/2010 và cháu Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 30/04/2011 cho chị Lê Thị B nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Nguyễn Văn Kh không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng anh có quyền và nghĩa vụ tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
- Về quan hệ tài sản chung: Chị Lê Thị B và anh Nguyễn Văn Kh không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị B phải nộp số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng chị B đã dự nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0007787 ngày 15/07/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay chuyển thu toàn bộ số tiền trên thành án phí.
Đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp và cấp trên được quyền kháng nghị bản án này theo quy định pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lâm Bé Nhi |
Bản án số 111/2024/HNGĐ-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 111/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị B yêu cầu được ly hôn với anh Kh và yêu cầu giải quyết về con chung
