TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 111/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20/9/2024
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Xuân Thu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Nghĩa
- Bà Phan Thị Oanh
Thư ký phiên tòa: Bà Mai Lê Thục Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 244/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024 về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2024/QĐST - HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 84/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Minh D, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn M, xã H, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Bị đơn: Chị Bùi Thị N, sinh năm 1991; Địa chỉ: thôn P, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn anh Trần Minh D trình bày được tóm tắt như sau:
- Về hôn nhân: anh và chị Bùi Thị N tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, được Uỷ ban nhân dân (UBND) xã H, thành phố T cấp giấy chứng nhận kết hôn số 43 ngày 05/7/2018. Năm 2022, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do không hợp quan điểm sống và chị N nhiều lần gây nợ nần. Đến năm 2023, chị N bỏ đi từ đó vợ chồng không còn sống chung, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin ly hôn với chị N.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Thị Anh T, sinh ngày 15/9/2018. Từ ngày chị N bỏ đi con chung do anh nuôi dưỡng nên ly hôn, anh xin nuôi dưỡng con, không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
* Bị đơn chị Bùi Thị N vắng mặt nên không trình bày.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết vụ án:
+ Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuân theo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định, đảm bảo cho đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng thủ tục tố tụng.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đề nghị tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: anh Trần Minh D được ly hôn chị Bùi Thị N; về con chung: giao 01 con chung tên Trần Thị Anh T 15/9/2018 cho anh D nuôi dưỡng. Chị N không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: không giải quyết; về án phí: đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại thành phố T nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa thụ lý thuộc thẩm quyền.
[2] Việc giải quyết theo thủ tục vắng mặt đương sự: Bị đơn chị Bùi Thị N được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt nên căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án xét xử vắng mặt đương sự.
[3] Về yêu cầu của đương sự:
[3.1] Về hôn nhân: Anh Trần Minh D và Bùi Thị N tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, thành phố T cấp giấy chứng nhận kết hôn số 43 ngày 05/7/2018, là hôn nhân hợp pháp.
Anh Trần Minh D trình bày nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và chị N gây nợ nần làm cho kinh tế gia đình khó khăn. Từ năm 2023, anh D và chị N không sống chung, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn là thuộc trường hợp mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng. Tòa án nhiều lần triệu tập chị N để lấy lời khai và hòa giải nhưng chị N không đến thể hiện chị N không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng; điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa anh D và chị N đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, xét yêu cầu ly hôn của anh D là có căn cứ và phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.
[3.2] Về con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Trần Thị Anh T, sinh ngày 15/9/2018. Từ ngày vợ chồng xa nhau con chung do anh nuôi dưỡng. Do đó, để con phát triển tốt về thể chất, tinh thần chấp nhận yêu cầu của anh D giao con chung T cho anh D tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Trần Minh D trực tiếp nuôi con và không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con. Do đó, chị N không cấp dưỡng nuôi con.
[3.3] Về tài sản chung: anh Bùi Minh D1 không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Nguyên đơn anh D1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn là 300.000đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- + Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- + Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuyên xử:
- - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh Trần Minh D được ly hôn chị Bùi Thị N.
- - Về con chung: Giao 01 con chung tên Trần Thị Anh T, sinh ngày 15/9/2018 cho anh Trần Minh D nuôi dưỡng. Chị Bùi Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- - Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.
- - Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Anh Trần Minh D phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn; nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002635 ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa.
Đương sự có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Xuân Thu |
Bản án số 111/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp ly hôn (hôn nhân gia đình)
- Số bản án: 111/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn (Hôn nhân gia đình)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu cho Trần Minh D, Bùi Thị N ly hôn
