TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 111/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30-8-2024
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Đức Quang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thể; ông Bùi Văn Hồng
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Soan - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Nguyễn Văn Quyết - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 126/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 108/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1995; địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm A, xã P, huyện N, tỉnh Nghệ An; hiện đang lao động tại Đài Loan tại số C, Khu A, Đường N, Quận L, Thành phố T, Đài Loan. Có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Đinh Phúc B, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai có tại hồ sơ vụ án, chị Nguyễn Thị Q trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Q và anh Đinh Phúc B đăng ký kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh ngày 23/10/2013. Sau khi kết hôn chị Q và anh B chưng sống bình thường đến khoảng tháng 02 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn bắt đầu từ việc hai bên bất đồng quan điểm sống. Chị Q và anh B thường xuyên cãi vã khiến cho mối quan hệ vợ chồng hết sức nặng nề. Anh Bình thường X chơi bời, không làm việc và chung sức xây dựng cuộc sống. Chị Q và anh B đã nhiều lần giải quyết mâu thuẫn nhưng càng làm mâu thuẫn càng lớn. Đỉnh điểm của mâu thuẫn là khi anh B có hành vi bạo hành chị Q. Chị Q và anh B đã ly thân từ đó cho đến nay.
Nay nhận thấy cuộc sống hôn nhân của vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Q yêu cầu được ly hôn với anh Đinh Phúc B.
- Về con chung: Chị Q và anh B có 01 con chung tên Đinh Thị Quỳnh T, sinh ngày 20/8/2013 hiên nay con chung đang sống cùng anh B. Khi ly hôn chị Q đồng ý giao con chung cho anh B trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chị Q và anh B tự thoả thuận về cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung : Không yêu cầu Toà án giải quyết
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Đinh Phúc B có ý kiến như sau:
- Về hôn nhân: Anh B thống nhất về quá trình kết hôn như chị Q trình bày tại đơn khởi kiện. Khoảng năm 2016 đến năm 2017 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do chị Q bỏ nhà đi. Từ khi chị Q đi anh B và chị Q không còn liên lạc với nhau, không còn quan tâm nhau, anh và chị Q ly thân từ đó cho dến nay, hiện nay anh và chị Q không còn tình cảm với nhau. Nay chị Q xin ly hôn anh B đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Anh B và chị Q có 01 con chung tên Đinh Thị Quỳnh T, sinh ngày 20/8/2013 hiên nay con chung đang sống cùng anh B. Khi ly hôn anh B có nguyện vọng nuôi con chung và không yêu cầu chị Q cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử. Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 123, 127 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật TTDS năm 2015. Điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Quỳnh .
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Q được ly hôn anh Đinh Phúc B.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Đinh Thị Quỳnh T, sinh ngày 20/8/2013 cho anh Đinh Phúc B tiếp tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con thành niên và lao động được. Anh B không yêu cầu nên chị Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Chị Nguyễn Thị Q khởi kiện ly hôn với anh Đinh Phúc B. Chị Q có nơi trú tại huyện N, tỉnh Nghệ An. Anh B có nơi cư trú tại huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Tại thời điểm thụ lý vụ án chị Nguyễn Thị Q đang lao động tại Đài Loan có xác nhận của Văn phòng K tại Đ. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh quy định tại Điều 37; Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt do đó Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1] Về hôn quan hệ hôn nhân: Chị Q và anh B tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh ngày 23/10/2013 nên hôn nhân giữa chị Q và anh B là hôn nhân hợp pháp. Chị Q và anh B cho rằng vợ chồng mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm sống, anh, chị thường xuyên cãi vã khiến cho mối quan hệ vợ chồng hết sức nặng nề. Chị Q và anh B đã nhiều lần hoà giải nhưng không thành, anh, chị đã ly thân nhiều năm và không còn liên lạc với nhau. Đối với yêu cầu ly hôn của chị Q, anh B đồng ý ly hôn.
Chị Q và anh B là vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương nhau, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau và cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình. Chị Q và anh B xảy ra mâu thuẫn, chị Q và anh B đã hàn gắn nhưng không thành. Vợ chồng đã ly thân nhiều năm, không còn liên lạc với nhau, điều này cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu, cho chị Q được ly hôn với anh B.
[2.2] Về con chung: Chị Q và anh B có 01 con chung tên Đinh Thị Quỳnh T, sinh ngày 20/8/2013, hiện nay con chung đang sống cùng anh B. Theo nguyện vọng của chị Q, anh B và cháu T cũng như để đảm bảo cuộc sống ổn định cho cháu cần giao cháu Đinh Thị Quỳnh T cho anh Đinh Phúc B tiếp tục nuôi dưỡng. Anh B không yêu cầu nên chị Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
[2.4] Về án phí: Chị Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 469, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 8, Điều 9, khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Q, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Q được ly hôn anh Đinh Phúc B.
2. Về con chung:
Giao cháu Đinh Thị Quỳnh T, sinh ngày 20/8/2013 cho anh Đinh Phúc B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên và lao động được. Anh B không yêu cầu nên chị Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh B và các thành viên trong gia đình co nghĩa vụ tạo điều kiện cho chị Q trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, không ai được cản trở chị Q thực hiện quyền này.
Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không cố định. Một trong các bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét việc thay đổi nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nếu có yêu cầu.
3. Về tài sản chung, nợ chung:
Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí:
Chị Nguyễn Thị Q phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Q1 đã nộp theo biên lai số 0000894 ngày 03/6/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
5. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hồ Đức Quang |
Bản án số 111/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 111/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Nguyễn Thị Quỳnh và anh Đinh Phúc Bình đăng ký kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Hương Trà, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh ngày 23/10/2013. Sau khi kết hôn chị Quỳnh và anh Bình chưng sống bình thường đến khoảng tháng 02 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn bắt đầu từ việc hai bên bất đồng quan điểm sống. Chị Quỳnh và...
