TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 111/2024/HS-ST Ngày: 28-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Tuyết Minh và ông Lê Đình Khôi
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Khương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 106/2024/HS-ST ngày 06 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 124/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị L – sinh năm 1970, tại Đồng Nai
Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C – sinh năm 1937 và bà Quách Thị N (đã chết); Có chồng là Nguyễn Văn T – sinh năm 1967; Có 02 (Hai) con, lớn nhất sinh năm 1995 và nhỏ nhất sinh năm 1997; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 12/01/2024 đến ngày 15/01/2024, hiện đang tại ngoại. (Có mặt)
- Người làm chứng: (Vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn T – sinh năm 1967
- Bà Hồ Thị C1 – sinh năm 1980
Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 15 giờ 50 phút ngày 12/01/2024, tại nhà Nguyễn Thị L thuộc ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Công an huyện T phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thị L đang có hành vi tổng hợp số đề từ các tờ phơi đề. Tang vật thu giữ gồm: 06 tờ phơi đề ghi được vào ngày 12/01/2024, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, số tiền 100.000 đồng. Hồi 16 giờ 50 phút ngày 12/01/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của L thu giữ số tiền 39.800.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định được như sau:
Từ khoảng tháng 11 năm 2023, Nguyễn Thị L đứng ra nhận ghi số đề cho những người dân xung quanh chơi. L đứng ra nhận thầu số đề để ăn thua trực tiếp với người chơi chứ không giao lại số đề cho người khác. Hình thức chơi là khi có người có nhu cầu đánh đề sẽ gặp L và chọn con số đánh và số tiền đặt cược; hoặc người chơi sẽ nhắn tin ghi số chọn và số tiền cược cho L qua tài khoản mạng zalo có tên “Poppy”. Hằng ngày, sau khi có kết quả xổ số của công ty X (tùy theo ngày sẽ căn cứ vào kết quả của các công ty xổ sổ khác nhau) thì L sẽ căn cứ vào kết quả mở thưởng để trả tiền đánh bạc cho người chơi. L và những người chơi thỏa thuận các hình thức chơi gồm “đá”, “dọc”, “xỉu chủ”, “bao lô”, “đầu đuôi”. Theo đó, mỗi hình thức chơi sẽ có cách thức thắng tiền khi con số người chơi chọn trúng với con số mà công ty X công bố vào lúc 16 giờ 30 phút hằng ngày gấp khoảng 70 lần số tiền mà người chơi đã chọn.
Quá trình điều tra, xác định được vào ngày 06/12/2023, số tiền mà Nguyễn Thị L và những người chơi đề dùng vào việc đánh bạc ở Đ Đồng Nai là 14.100.000 đồng (gồm 3.600.000 đồng là tiền ghi đề và 10.500.000 đồng là tiền người chơi thắng cược); ở Đài Miền B 4.100.000 đồng (gồm 2.700.000 đồng là tiền ghi đề và 1.400.000 đồng là tiền người chơi thắng cược). Vào ngày 12/01/2024, số tiền mà Nguyễn Thị L và những người chơi đề dùng vào việc đánh bạc ở Đài B là 1.162.000 đồng.
Theo Cáo trạng số 46/CT-VKSTP-ĐN ngày 03/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú thực hiện quyền công tố đã luận tội, tranh luận, phân tích dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo về tội “Đánh bạc” với mức án từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền 100.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax là công cụ, phương tiện phạm tội nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi và đồng ý với tội danh, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi là vi phạm pháp luật, xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú:
Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ như Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản trích xuất nội dung dữ liệu điện thoại, kết quả xổ số... Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:
Vào ngày 06/12/2023, tại ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thị L có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức ghi số đề với số tiền 18.200.000 đồng; vào ngày 12/01/2024, L có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức ghi số đề với số tiền là 1.162.000 đồng. Tổng cộng số tiền đánh bạc của L là 19.362.000.000đ (Mười chín triệu ba trăm sáu mươi hai nghìn đồng).
Hành vi của Nguyễn Thị L là hành vi đã phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; ngoài ra còn xem xét bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự. Các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Căn cứ quyết định hình phạt:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an xã hội tại địa phương. Đặc biệt, trong thời điểm hiện nay, tệ nạn đánh bạc diễn ra ngày càng phức tạp và là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của các nhóm tội phạm khác. Bị cáo là người đã thành niên nhận thức đầy đủ về hành vi của mình, đã thực hiện hành vi đánh bạc bất hợp pháp.
Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa tội phạm tại địa phương. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù đối với bị cáo mà áp dụng hình phạt tiền để sung vào ngân sách Nhà nước cũng thỏa đáng, đủ tác dụng răn đe, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.
[6] Về áp dụng hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, đồng thời xem xét bị cáo có nghề nghiệp với thu nhập không ổn định, đã bị áp dụng hình phạt chính bằng hình thức phạt tiền nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về biện pháp tư pháp:
Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 39.800.000 đồng là tài sản của ông Nguyễn Văn T không liên quan đến vụ án, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả lại là phù hợp, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với số tiền 100.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax là công cụ, phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Đối với 06 tờ phơi đề là công cụ, phương tiện phạm tội, vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội được chuyển cùng hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử xem xét lưu hồ sơ vụ án. Buộc bị cáo nộp sung vào ngân sách nhà nước số tiền ghi đề đã nhận từ người chơi đề gồm 3.600.000 đồng, 2.700.000 đồng và 1.162.000 đồng.
[8] Các vấn đề khác: Đối với tài khoảng mạng zalo tên “Duong Ruhi” có hành vi ghi số đề điều tra khi tiến hành kiểm tra điện thoại di động của Nguyễn Thị L, Cơ quan điều tra chưa xác minh được nhân thân, lai lịch và chưa lấy được lời khai nên chưa có căn cứ xử lý, vì vậy Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan điều tra cấp có thẩm quyền tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào có kết quả xử lý sau.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[10] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 321; Điều 35, khoản 1 Điều 46, Điều 47; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- - Khoản 2 Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội: “Đánh bạc”.
- Các biện pháp tư pháp:
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005567 ngày 06/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- - Buộc bị cáo nộp sung vào ngân sách nhà nước số tiền 3.600.000đ (Ba triệu sáu trăm nghìn đồng), 2.700.000đ (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng) và 1.162.000₫ (Một triệu một trăm sáu mươi hai nghìn đồng); tổng cộng là 7.462.000₫ (Bảy triệu bốn trăm sáu mươi hai nghìn đồng).
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú).
- - Lưu vào hồ sơ vụ án đối với vật chứng gồm có: 06 (Sáu) tờ phơi đề được đánh số Bút lục từ 72 đến 77.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị L phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng).
Về xử lý vật chứng:
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 111/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 111/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng).
