|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 111/2024/HS-ST
Ngày: 13/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
- - Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Qui .
- - Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Hạnh.
- Ông Nguyễn Tuyệt .
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thuận – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Hoàng - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 99/2024/HSST ngày 08 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024, Thông báo thay đổi thời gian xét xử số: 09/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Quang Đ; tên gọi khác: không; sinh năm: 1969; nơi sinh: Thái Bình; Nơi thường trú và nơi cư trú: Số nhà B đường B, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Quang T, sinh năm 1942 (chết năm 2003) và bà Trần Thị Q, sinh năm 1944, hiện cư trú: Vân Trường, Tiền H, Thái Bình; Gia đình có 04 anh em, lớn nhất sinh năm 1967, nhỏ nhất sinh năm 1967, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị Kim S, sinh năm 1968, có 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1999, hiện vợ con đang sinh sống tại Số nhà B đường B, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chi cục thuế khu vực B - B - Lâm Đồng; Địa chỉ: Số A đường H, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Văn H1 – Chức vụ Chi cục trưởng.
Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Xuân T1 – chức vụ: Chuyên viên đội tuyên truyền – Hỗ trợ người nộp thuế - Trước bạ & T2 khác (có mặt).
Người làm chứng: Bà Trần Thị Thanh N, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ A, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt).
2
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH T4 (sau đây gọi tắt là Công ty T4) có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mã số 5801275372 do Sở KH-ĐT tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 03/6/2015. Địa chỉ trụ sở: Số A đường B, phường A, thành phố B, Lâm Đồng. Chủ sở hữu và người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Quang Đ.
Năm 2017 do công nhân làm việc cho Công ty T4 chủ yếu là lao động thời vụ nên không ký hợp đồng lao động dẫn đến việc công ty không kê khai được chi phí nhân công để giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Vì vậy ông Đ đã chỉ đạo Trần Thị Thanh N, là kế toán công ty mua thêm hóa đơn GTGT là mặt hàng thép tại các đơn vị mà ông Đ đã mua thép thực tế như tôn Vạn Trường, tôn Phương Nam... để những cơ sở trên ghi số lượng hàng hóa và tiền hàng hóa trên hóa đơn cao hơn số lượng hàng hóa mua thực tế từ đó làm tăng chi phí, giảm thuế Giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp cho Công ty T4 thì N đồng ý. Tuy nhiên N không liên hệ với các đơn vị trên mà tự ý lấy các cuốn hóa đơn GTGT của công ty C, công ty TNHH X, công ty TNHH P, công ty TNHH X1 do N thành lập để ghi nội dung và đưa vào kê khai thuế năm 2017 cho công ty TNHH T4. N báo với ông Đ giá mua hóa đơn là từ 3% đến 4% giá trị hàng hóa trước thuế ghi trên hóa đơn thì ông Đ đồng ý và đã thanh toán cho N số tiền mua hóa đơn GTGT là khoảng 24.000.000đ. Cụ thể N đã bán cho Công ty T4 39 hóa đơn GTGT, cụ thể như sau:
- Công ty TNHH C 08 hóa đơn số: 0000096 ngày 03/04/2017, 0000099 ngày 06/04/2017, 0000100 ngày 09/04/2017, 0000102 ngày 13/04/2017, 0000105 ngày 17/04/2017, 0000107 ngày 02/05/2017, 0000109 ngày 05/05/2017, 0000111 ngày 08/05/2017 với giá trị hàng hóa trước thuế 140.866.770 đồng, thuế GTGT 10%: 14.086.677 đồng.Hàng hóa ghi trên hóa đơn là thép.
- Công ty TNHH X2 hóa đơn số: 0000038 ngày 01/04/2017, 0000040 ngày 04/04/2017, 0000043 ngày 07/04/2017, 0000044 ngày 10/04/2017, 0000046 ngày 12/04/2017, 0000047 ngày 13/04/2017, 0000049 ngày 15/04/2017, 0000051 ngày 01/04/2017 với giá trị hàng hóa trước thuế 143.494.750 đồng, thuế GTGT 10%: 14.349.475 đồng. Hàng hóa ghi trên hóa đơn là thép.
- Công ty TNHH P 12 hóa đơn số: 0000356 ngày 06/04/2017, 0000358 ngày 08/04/2017, 0000364 ngày 11/04/2017, 0000368 ngày 13/04/2017, 0000371 ngày 08/04/2017, 0000374 ngày 20/04/2017, 0000377 ngày 23/04/2017, 0000379 ngày 26/04/2017, 0000384 ngày 29/04/2017, 0000386 ngày 03/05/2017, 0000389 ngày 06/05/2017, 0000393 ngày 05/09/2017 với giá trị hàng hóa trước thuế 206.445.484 đồng, thuế GTGT 10%: 20.644.549 đồng. Hàng hóa thể hiện trên hóa đơn là thép.
- Công ty TNHH X1 11 hóa đơn số: 0000079 ngày 04/04/2017, 0000084 ngày 10/04/2017, 0000088 ngày 12/04/2017, 0000093 ngày 16/04/2017, 0000098 ngày 19/04/2017, 0000103 ngày 03/05/2017, 0000105 ngày 05/05/2017, 0000108 ngày 09/05/2017, 0000110 ngày 12/05/2017, 0000112 ngày 14/05/2017, 0000114 ngày 17/05/2017 với giá trị hàng hóa trước thuế 193.554.549 đồng, thuế GTGT 10%: 19.355.454 đồng. Hàng hóa thể hiện trên hóa đơn là thép.
3
Sau khi mua 39 hóa đơn trên thì Công ty TNHH T4 đã sử dụng để hợp thức hóa đầu vào và để kê khai thuế GTGT đầu vào với số tiền là 68.436.155đ, trong lần đầu quý 2 vào ngày 31/7/2017. Kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2017 lần đầu vào ngày 01/4/2018 với giá trị hàng hóa trước thuế GTGT là 684.361.553đ.
Năm 2021, Công ty T4 đã thực hiện điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ là 68.436.155 đồng tại Tờ khai thuế GTGT kỳ tính thuế quý 2/2017 (bổ sung lần thứ 1) ngày 04/7/2021, ngày 05/7/2021 nộp bổ sung số thuế GTGT 68.436.155 đồng vào ngân sách nhà nước theo giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước số 2804326; loại khỏi chi phí được trừ là 684.361.553 đồng tại tờ khai quyết toán thuế TNDN năm 2017 (bổ sung lần thứ 1) ngày 09/7/2021, tự xác định thuộc trường hợp được hưởng ưu đãi miễn thuế nên không phát sinh thuế TNDN phải nộp. Qua kiểm tra, đoàn kiểm tra Chi cục Thuế khu vực B - Bảo Lâm xác định Công ty T4 thuộc trường hợp được hưởng ưu đãi miễn thuế nên không phát sinh thuế TNDN phải nộp.
Tại bản kết luận giám định ngày 24/12/2021 của tổ giám định viên Hoàng Văn T3 và Ngô Bá L là giám định viên của Bộ T5 kết luận:
“... Công ty TNHH T4 mua hóa đơn để hợp thức hóa đầu vào để kê khai thuế GTGT đầu vào là 68 .436.155đ, tương ứng với số tiền trốn thuế là 68.436.155đ.
Thuế TNDN: Tổng giá trị hàng hóa trước thuế GTGT trên 39 tờ hóa đơn, Công ty TNHH T4 đã hạch toán khống là 684.361.553đ.
- + Thu nhập tính thuế TNDN là 684.361.553đồng
- + Số tiền trốn thuế TNDN : 684.361.553đồng x 20% = 136.872.311đ.
Tổng số tiền trốn thuế GTGT, thuế TNDN là 205.308.466 đồng.
Theo Kết luận giám định ngày 04/5/52024 của Tổ giám định viên Hoàng Văn T3 và Ngô Bá L là giám định viên của Bộ T5 kết luận: Công văn 5544/CCTKV-KT1 ngày 10/10/2023 của Chi cục thuế đã thực hiện đúng Luật Quản lý thuế, Công ty T4 là doanh nghiệp thành lập mới và hoạt động tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, đáp ứng các điều kiện ưu đãi về thuế TNDN thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính liên tục từ năm 2016 theo quy định tại Điều 19, khoản 2 Điều 20 Nghị định 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế TNDN; Điều 18 Thông tự số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ T5 hướng dẫn điều kiện, nguyên tắc áp dụng ưu đãi thuế TNDN. Do đó, năm 2016 là năm thứ nhất doanh nghiệp được hưởng ưu đãi về miễn thuế nên không làm phát sinh thuế TNDN còn phải nộp qua kê khai cũng như qua kiểm tra; 2017 là năm thứ 2 đơn vị được hưởng ưu đãi miễn thuế nên không làm phát sinh thuế TNDN còn phải nộp qua kiểm tra.
4
Về vật chứng: Cơ quan CSĐT đã thu giữ bản gốc của 39 liên 2 hóa đơn GTGT mà Công ty T4 đã mua và sử dụng kê khai thuế được lưu theo hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 99/CT-VKS ngày 01 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố bị cáo Nguyễn Quang Đ về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo không thắc mắc hay khiếu nại gì nội dung của bản cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm vẫn giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Quang Đ, đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 203, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Điện từ 250.000.000đ (hai trăm năm mươi triệu đồng) đến 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng).
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Công ty Đ1 đã thực hiện điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ là 68.436.155 đồng tại Tờ khai thuế GTGT kỳ tính thuế quý 2/2017 (bổ sung lần thứ 1) ngày 04/7/2021, nộp bổ sung số thuế GTGT 68.436.155 đồng vào ngân sách nhà nước theo giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước số 2804326 ngày 05/7/2021 nay Chi cục thuế khu vực B – Bảo Lâm xác định Công ty T4 đã thực hiện xong nghĩa vụ thuế nên không xem xét.
Về vật chứng: Cơ quan CSĐT đã thu giữ bản gốc của 39 liên 2 hóa đơn GTGT mà Công ty T4 đã mua và sử dụng kê khai thuế được lưu hồ sơ vụ án.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an thành phố B; của Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến thắc mắc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.
5
- Về nội dung vụ án: Bị cáo Nguyễn Quang Đ là chủ sở hữu và đồng thời giám đốc Công ty TNHH T4. Vào năm 2017 do công nhân làm việc cho công ty TNHH T4 chủ yếu là lao động thời vụ nên không ký hợp đồng lao động dẫn đến việc công ty không kê khai được chi phí nhân công. Do vậy, Nguyễn Quang Đ đã thực hiện hành vi chỉ đạo Trần Thị Thanh N là kế toán của công ty M trái phép 39 hóa đơn GTGT đã ghi nội dung bất hợp pháp với giá trị hàng hóa trước thuế là 684.361.553 đồng, thuế GTGT là 68.436.155 đồng nhằm mục đích để giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp là hành vi vi phạm pháp luật bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Đối với hành vi sử dụng 39 hóa đơn bất hợp pháp của Nguyễn Quang Đ nhằm mục đích để công ty TNHH T4 trốn thuế thu nhập doanh nghiệp với số tiền là 136.872.311đ và thuế GTGT với số tiền là 68.436.155đ nhưng theo Kết luận giám định ngày 04/5/2024 của Tổ giám định viên Văn Thắng và Ngô Bá L là giám định viên của Bộ T5 kết luận: Công văn 5544/CCTKV-KT1 ngày 10/10/2023 của Chi cục thuế đã thực hiện đúng Luật Quản lý thuế, Công ty T4 là doanh nghiệp thành lập mới và hoạt động tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, đáp ứng các điều kiện ưu đãi về thuế TNDN thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính liên tục từ năm 2016 theo quy định tại Điều 19, khoản 2 Điều 20 Nghị định 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế TNDN; Điều 18 Thông tự số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ T5 hướng dẫn điều kiện, nguyên tắc áp dụng ưu đãi thuế TNDN. Do đó, năm 2016 là năm thứ nhất doanh nghiệp được hưởng ưu đãi về miễn thuế nên không làm phát sinh thuế TNDN còn phải nộp qua kê khai cũng như qua kiểm tra; năm 2017 là năm thứ 2 đơn vị được hưởng ưu đãi miễn thuế nên không làm phát sinh thuế TNDN còn phải nộp qua kiểm tra. Đối với số tiền thuế GTGT là 68.436.155đ Nguyễn Quang Đ chưa bị xử phạt hành chính và chưa có tiền án tiền sự về hành vi này. Do vậy cơ quan CSĐT Công an thành phố B không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Đ về tội trốn thuế là đúng quy định của pháp luật.
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án, đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Quang Đ đã phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố bị cáo Nguyễn Quang Đ về tội danh và điều luật như Cáo trạng là có căn cứ và đúng pháp luật
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã tự nguyện khắc phục hậu quả nên áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 để giảm nhẹ cho bị cáo là phù hợp.
Xét tính chất của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách thuế của Nhà nước đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh, làm giảm sút nguồn thu ngân sách của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nói riêng và trật tự xã hội nói chung, xét cần thiết phải áp dụng cho bị cáo một mức hình phạt thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi của bị cáo.
6
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT đã thu giữ bản gốc của 39 liên 2 hóa đơn GTGT mà Công ty T4 đã mua và sử dụng kê khai thuế được lưu hồ sơ vụ án.
- Đối với hành vi của Trần Thị Thanh N đã bán 39 hóa đơn nêu trên cho Nguyễn Quang Đ, thu lợi được số tiền khoảng 24.000.000đ thì đã bị truy tố, xét xử về tội mua bán trái phép hóa đơn theo bản án số 15/2021/HS-PT ngày 19/01/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng. Do vậy không xem xét trách nhiệm hình sự đối với hành vi trên của Trần Thị Thanh N trong vụ án này.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang Đ phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước”.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về lệ phí, án phí tòa án.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 203; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Quang Đ số tiền 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước.
Buộc bị cáo Nguyễn Quang Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký và đóng dấu) Trần Thị Qui |
Bản án số 111/2024/HS-ST ngày 13/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự (mua bán trái phép hóa đơn chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước)
- Số bản án: 111/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép hóa đơn chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quang Đ phạm tội "Mua bán trái phép hóa đơn chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước"
