Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG ANH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2024/HSST.

Ngày: 05 – 6 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Nguyễn Hữu Đệ.
  • 2/ Bà Nguyễn Thị Mai.

- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 05/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 110/2024/HSST ngày 17/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2024/QĐXXST - HS ngày 23 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Tuấn A, sinh năm 1993 tại Đ, Hà Nội. Nơi cư trú: Thôn P, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị N; Tiền án, tiền sự: Theo D, chỉ bản số 56 của Công an huyện Đ lập ngày 11/01/2024 và Trích lục tiền án, tiền sự số 6332870/2024/PV06 ngày 30/01/2024 thể hiện bị cáo không có tiền sự, có 01 tiền án: Ngày 12/4/2017 tại bản án số 39 bị Tòa án nhân dân Huyện Đông Anh xử phạt 07 năm 09 tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 07/01/2023 chấp hành xong bản án; Nhân thân có 01 tiền sự: Ngày 10/3/2014 bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 3.500.000 đồng về hành vi Hủy hoại tài sản. Tuấn A chưa chấp hành, tuy nhiên từ ngày 22/3/2014 đến nay Công an Đ không có biên bản đôn đốc thực hiện, hiện đã hết thời hiệu; 01 tiền án: Ngày 25/02/2010 tại bản án số 20

bị Tòa án nhân dân Huyện Đông Anh xử phạt 04 năm tù giam về tội Cướp tài sản. Ngày 26/3/2013 chấp hành xong bản án.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Ngô Chung Đ, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn H, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng công khai tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 15 phút ngày 08/01/2024, tổ công tác Công an xã T thuộc Công an huyện Đ làm nhiệm vụ tại khu vực đầu ngõ I, thôn P, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội phát hiện Hoàng Tuấn A và Ngô Chung Đ, sinh năm 1990, thường trú tại thôn H, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội đang đứng trong ngõ 09 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Khám người theo thủ tục hành chính đối với Hoàng Tuấn A phát hiện thu giữ tại lòng bàn tay phải: 01 (một) điện thoại Iphone, vỏ màu trắng, lắp sim số thuê bao: 096.615.3xxx và số tiền 100.000 đồng; Tại lòng bàn tay trái 01 (một) vỏ bao thuốc lá T1, trong có 01 (một) gói nilon màu trắng kích thước (2,5x2,5) cm bên trong chứa tinh thể màu trắng. Khám người theo thủ tục hành chính đối với Ngô Chung Đ phát hiện thu giữ tại túi quần phía trước bên phải: 01 (một) điện thoại Nokia 105, màu đen, lắp sim số thuê bao 037.612.3xxx và số tiền 500.000 đồng. Hoàng Tuấn ANgô Chung Đ khai nhận đang chuẩn bị giao dịch mua bán ma túy. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản tạm giữ, niêm phong vật chứng và đưa các đối tượng về trụ sở làm rõ.

Tại kết luận giám định số 593 ngày 16/01/2024, Phòng K - Công an thành phố H kết luận giám định: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,226 gam.

Xét nghiệm nước tiểu của Hoàng Tuấn ANgô Chung Đ kết quả đều dương tính với ma túy.

Quá trình điều tra làm rõ: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 08/01/2024, Ngô Chung Đ sử dụng điện thoại số thuê bao 0376.123.xxx gọi đến số thuê bao 096.615.3xxx của Hoàng Tuấn A hỏi Tuấn A: Có nhà không để buổi chiều Đ đến gặp mua ma túy “đá” tức M về sử dụng, Tuấn A trả lời: Đang đi có việc, có gì về nói chuyện sau. Đến 17 giờ 32 phút cùng ngày, Đ nhắn tin cho Tuấn A nói: Tôi giờ mới về nhà, bạn để tôi 500 nhé, tức Đ nhắn mua của Tuấn

A 500.000 đồng ma túy Methamphetamine. Do Tuấn A không trả lời, Đ tiếp tục sử dụng điện thoại số thuê bao 0376.123.xxx gọi đến số thuê bao 096.615.3xxx của Tuấn A, sau khi thỏa thuận Tuấn A bảo Đ đến cổng nhà Tuấn A để giao ma túy và nhận tiền. Khoảng 18 giờ, Đ thuê xe taxi đến đoạn đầu thôn P, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội (gần nhà Tuấn A), đi bộ vào ngõ I và gọi điện cho Tuấn A, bảo Tuấn A cầm ma túy ra bán cho Đ, Tuấn A đồng ý. Khoảng 10 phút sau, Tuấn A đi bộ từ nhà ra ngõ I gặp Đ để giao ma túy, khi Đ và Tuấn A đang giao dịch, chưa kịp giao ma túy thì bị Tổ công tác Công an xã T kiểm tra phát hiện và thu giữ ma túy.

Ngoài ra còn làm rõ trước đó: Tối 07/01/2024, Ngô Chung Đ đã sử dụng điện thoại thuê bao 0376.123.xxx gọi đến số thuê bao 096.615.3xxx của Hoàng Tuấn A đặt vấn đề mua 400.000 đồng ma túy “đá”, Tuấn A đồng ý và bảo Đ thanh toán tiền qua tài khoản Ngân hàng số 0966153655 của Tuấn A, Đ đồng ý. Đ thuê xe taxi đi đến đầu thôn P thì gọi điện báo cho Tuấn A biết, sau đó đến 19 giờ 58 phút Đ mượn điện thoại của lái xe taxi đăng nhập tài khoản số 21410003219575 tại Ngân hàng TMCP Đ1 của Đ chuyển khoản số tiền 400.000 đồng đến tài khoản số 0966153655 tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q của Tuấn A. Nhận được 400.000 đồng, Tuấn A mang 01 (một) túi nilon chứa ma túy “đá” đi ra ngõ I, thôn P để bán cho Đ, Đ đã mang về và sử dụng hết.

Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Tuấn A đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của Hoàng Tuấn A tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của Ngô Chung Đ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Về nguồn gốc số ma túy đã bán cho Ngô Chung Đ vào ngày 07/01/2024 và 08/01/2024, Hoàng Tuấn A khai chiều ngày 07/01/2024, Tuấn A mua của một người đàn ông không quen biết, đứng ở ven đường khu vực gầm cầu T, thuộc địa phận Quận B với giá 1.100.000 đồng, Tuấn A mang về sử dụng một phần, phần còn lại Tuấn A bán cho Ngô Chung Đ vào ngày 07/01/2024 và ngày 08/01/2024. Tuy nhiên đến giai đoạn truy tố, Tuấn A có lời khai phản cung, không nhận tội về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý với Đ vào ngày 07/01/2024.

Ngô Chung Đ khai nhận hành vi 02 lần mua ma túy của Hoàng Tuấn A về để sử dụng như nội dung nêu trên, lời khai của Đ phù hợp với lời khai của Hoàng Tuấn A tại cơ quan điều tra và tài liệu khác thu thập được.

Đối với người bán ma túy cho Hoàng Tuấn A ngày 07/01/2024, do Tuấn A không rõ nhân thân, lai lịch. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.

Đối với Ngô Chung Đ: ngày 08/01/2024 giao dịch mua ma túy của Hoàng Tuấn A về để sử dụng, nhưng chưa kịp nhận ma túy thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện. Ngày 07/01/2024, Ngô Chung Đ mua 400.000 đồng ma túy của Hoàng Tuấn A về sử dụng hết. Ngày 08/01/2024, Công an xã T phối hợp cùng Trạm y tế xã T xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể Ngô Chung Đ cho kết quả dương tính với Methamphetamine. Ngày 26/3/2024, Công an huyện Đ Quyết định xử phạt hành chính đối với Ngô Chung Đ về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144 ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Vật chứng:01 (một) điện thoại Iphone, vỏ màu trắng, lắp sim số thuê bao: 096.615.3xxx; 01 (một) điện thoại Nokia 105, màu đen, lắp sim số thuê bao 037.612.3xxx; Số tiền 600.000 đồng; 01 (một) gói nilon màu trắng kích thước (2,5x2,5) cm bên trong chứa ma túy Methamphetamine. Cơ quan điều tra đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh phục vụ việc xét xử và thi hành án.

Tại bản Cáo trạng số 102/CT-VKS-ĐA ngày 15/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh đã truy tố bị cáo Hoàng Tuấn A về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Điểm b, q Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa: Bị cáo Hoàng Tuấn A trình bày lời khai của bị cáo tại Công an xã T là không đúng vì bị cáo mới sử dụng ma tuý nên mệt mỏi do vậy khi khai bị cáo nhận hết để nhanh chóng được nghỉ ngơi. Theo bị cáo sau khi sử dụng ma tuý khoảng một tuần thì mới có thể tỉnh táo, bình thường. Bị cáo còn trình bày tại Công an xã T bị cáo bị ép cung nên mới khai đã bán ma tuý cho Đ hai lần vì thực tế bị cáo chỉ bán ma tuý cho Đ một lần vào ngày 08/01/2024 và bị bắt quả tang nhưng bị cáo không có tài liệu, chứng cứ nào thể hiện việc bị cáo bị ép cung. Bị cáo xác định tại Công an huyện Đ bị cáo không bị ép cung mà tự nguyện trình bày. Bị cáo khai mới quen biết Đ vào sáng ngày 07/01/2024 tại quán nước và không có mâu thuẫn gì. Chiều ngày 07/01/2024, Đ gọi điện cho bị cáo hỏi mua ma tuý nhưng vì bị cáo đang buồn ngủ mà lại chưa có sẵn ma tuý nên dù Đ có chuyển vào tài khoản của bị cáo tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q số tiền 400.000 đồng nhưng bị cáo không bán ma tuý cho Đ. Bị cáo xác định chỉ bán ma tuý cho Đ một lần vào ngày 08/01/2024.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng

định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như Cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điểm b, q Khoản 2 Điều 251, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt:

Hoàng Tuấn A: Từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định.

Áp dụng Điều 47, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại Iphone, vỏ màu trắng; 01 (một) điện thoại Nokia 105, màu đen; số tiền 600.000 đồng.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) gói nilon màu trắng kích thước (2,5x2,5) cm bên trong chứa 0,197 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau thu mẫu giám định; sim số thuê bao: 096.615.3xxx; sim số thuê bao 037.612.3xxx.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên toà, bị cáo trình bày ý kiến cho rằng bị cáo bị đánh và ép cung khi làm việc tại Công an xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội, không có tài liệu, chứng cứ nộp kèm theo và khi làm việc tại Công an huyện Đ, thành phố Hà Nội thì bị cáo tự khai, không bị ép cung, không bị đánh. Xem xét các lời khai của bị cáo tại Công an xã T và tại Công an huyện Đ về cơ bản nội dung không thay đổi, bị cáo đều thừa nhận hành vi bán ma tuý cho Đ trong hai ngày 07/01/2024 và ngày 08/01/2024 và phù hợp với lời khai của Đ và các tài liệu chứng cứ thu thập được nên không có cơ sở cho rằng bị cáo bị ép cung.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 18 giờ 15 phút ngày 08/01/2024, tại ngõ I thôn P, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội, Hoàng Tuấn A có hành vi bán trái phép 0,226 gam ma túy loại Methamphetamine cho Ngô Chung Đ, đã bị tổ công tác Công an xã T – Công an huyện Đ phát hiện bắt giữ người cùng tang vật. Ngoài ra còn làm rõ tối 07/01/2024 tại ngõ I thôn P, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội, Hoàng Tuấn A đã bán cho Ngô Chung Đ 01 túi nilon chứa ma túy “đá” với số tiền 400.000 đồng. Đ đã thanh toán bằng hình thức chuyển

khoản tiền cho Tuấn A qua tài khoản ngân hàng, số ma túy mua được Đ đã sử dụng hết.

Tại cơ quan điều tra bị cáo thừa nhận hành vi bán trái phép chất ma túy hai lần vào ngày 07/01/2024 và ngày 08/01/2024 cho Đ nhưng đến giai đoạn truy tố và tại phiên toà bị cáo chỉ thừa nhận hành vi bán trái phép chất ma tuý cho Đ vào ngày 08/01/2024. Bị cáo xác định ngày 07/01/2024 Đ có chuyển khoản số tiền 400.000 đồng cho bị cáo để mua ma tuý nhưng vì bị cáo chưa có ma tuý để bán và đang buồn ngủ nên đã hẹn Đ đến ngày 08/01/2024 giao ma tuý cho Đ và bị bắt quả tang khi hai bên đang mua bán. Lời khai tại giai đoạn truy tố và tại phiên toà của bị cáo không phù hợp với: lời khai của Ngô Chung Đ, biên bản làm việc dẫn giải bị cáo đi xác định địa điểm bán ma tuý cho Đ vào các ngày 07/01/2024 và ngày 08/01/2024, lời khai của chính bị cáo trong toàn bộ quá trình điều tra và các tình tiết khách quan của vụ án nên có đủ cơ sở xác định bị cáo Tuấn A đã bán ma tuý hai lần cho Đ. Bị cáo có 01 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, bị xử phạt 07 năm 09 tháng tù giam theo Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2017/HSST ngày 12/4/2017 của Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, chấp hành xong ngày 07/01/2023, chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này của bị cáo là Tái phạm nguy hiểm theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tội phạm không chỉ xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý mà còn là nguyên nhân làm phát sinh các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, các tệ nạn xã hội, tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an ninh trật tự. Bị cáo nhận thức được mức độ nguy hại của ma túy và nhận thức được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, đã từng bị kết án về cùng loại tội vừa mới chấp hành xong chưa được xoá án tích nhưng do tham lam tư lợi, không chịu tu dưỡng bản thân nên vẫn cố ý phạm tội. Do vậy, đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Hoàng Tuấn A phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Điểm b, q Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ xác định: Bị cáo Hoàng Tuấn A không phải chịu các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thay đổi lời khai, không thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma tuý cho Đ ngày 07/01/2024, không thể hiện được sự ăn năn, hối cải nên bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo đã từng bị kết án về cùng loại tội và mới chấp

hành xong nhưng do tham lam lợi nhuận từ việc mua bán trái phép chất ma tuý nên lại tiếp tục phạm tội, vì vậy khi xem xét và cân nhắc hình phạt đối với bị cáo cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với mức độ hành vi và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, lại sử dụng ma tuý nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4] Về vật chứng vụ án: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Những tài sản có liên quan đến tội phạm có giá trị sử dụng gồm: 01 (một) điện thoại Iphone, vỏ màu trắng; 01 (một) điện thoại Nokia 105, màu đen; số tiền 600.000 đồng cần tịch thu sung công quỹ nhà nước là phù hợp.

Đối với các tài sản là chất cấm và tài sản không có giá trị gồm: 01 (một) gói nilon màu trắng kích thước (2,5x2,5) cm bên trong chứa 0,197 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau thu mẫu giám định; sim số thuê bao: 096.615.3xxx; sim số thuê bao 037.612.3xxx cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Tuấn A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào Điểm b, q Khoản 2 Điều 251, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt:

Hoàng Tuấn A: 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ 09/01/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói nilon màu trắng kích thước (2,5x2,5) cm bên trong chứa 0,197 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau thu mẫu giám định; sim số thuê bao: 096.615.3xxx; sim số thuê bao 037.612.3xxx.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại Iphone, vỏ màu trắng; 01 (một) điện thoại Nokia 105, màu đen; số tiền 600.000 đồng.

(Tình trạng như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 17/5/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh và Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 17/5/2024 tại Kho bạc nhà nước huyện Đ, thành phố Hà Nội).

Bị cáo Hoàng Tuấn A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo về phần mình có liên quan trong bản án./.

Nơi nhận:

  • - VKS ND huyện Đông Anh;
  • - Công an huyện Đông Anh;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thu Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HSST ngày 05/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 111/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Tuấn A Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger