TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 111/2024/HS - ST Ngày: 06/5/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa | Ông Vũ Thanh Tùng |
Các Hội thẩm nhân dân | Bà Dương Tú Anh |
Ông Lê Bá Lung | |
Thư ký ghi biên bản phiên tòa | Bà Trần Phương Ly |
Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa – Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thu Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 06/5/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2024/HSST ngày 01/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2024/QĐXXST-HS ngày 17/4/2024, đối với các bị cáo có lý lịch như sau:
1. Họ và tên: Đỗ Văn C - sinh năm 1999; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: Thôn A, xã T, huyện C, Tuyên Quang; Chỗ ở: Số nhà F ngõ A phố Đ, phường M, quận N, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Đỗ Văn B; Con bà: Đỗ Thị V; Gia đình có 03 anh em, bị can là con thứ hai; Vợ: Dương Hoàng M - Sinh năm 2003; Con: Không; Tiền án, tiền sự: Không. D chỉ bản số 846 lập ngày 27/12/2023 tại Công an quận Đ. Nhân thân: Ngày 16/7/2019, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân xử phạt 12 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Ra trại ngày 08/4/2020; đã nộp án phí theo biên lai thu tiền số 0240 ngày 04/3/2020; đã xóa án tích). Bị can bị bắt quả tang, bị tạm giữ và tạm giam từ ngày 17/12/2023; Hiện đang được tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.
2. Họ và tên: Hà Văn T - sinh năm 1995; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: Thôn A, xã T, huyện C, Tuyên Quang; Chỗ ở: Không cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Hà Văn C1 - Sinh năm 1975; Con bà: Nguyễn Thị H - Sinh năm 1978; Gia đình có 02 anh em, bị can là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không; D chỉ bản số 844 lập ngày 26/12/2023 tại Công an quận Đ; Nhân thân: Ngày 04/6/2020, bị Công an quận T xử phạt 1.500.000 đồng về hàng vi Tàng trữ trái phép chất ma túy (Đã nộp tiền phạt theo biên lai thu tiền số 0007070 ngày 04/6/2020). Bị can bị bắt quả tang, bị tạm giữ và tạm giam từ ngày 17/12/2023; Hiện đang được tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H. (Có mặt tại phiên toà.)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Dương Hoàng M, sinh năm 2003; Địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. ( có mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 50 phút ngày 17/12/2023, tại khu vực đầu ngách D ngõ C phố L, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội. Tổ công tác của Công an phường Ô đang làm nhiệm vụ thì phát hiện Đỗ Văn C (sinh năm 1999; trú tại thôn A, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang) và Hà Văn T (sinh năm 1995; trú tại thôn A, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang) đang đứng gần chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 21K1-389.96 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, tổ công tác đã phát hiện thu giữ 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, trong phần vỏ nilon của bao thuốc lá có 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (2x3)cm, bên trong có tinh thể màu trắng do C ném từ tay phải ra phía sau cách vị trí C đang đứng khoảng 01 mét. Lúc này, T bỏ đi vào trong ngách D ngõ C phố L được khoảng 10 mét nhưng đã bị tổ công tác giữ lại. Kiểm tra người Tuấn, tổ công tác thu giữ trong túi quần phía trước bên phải T đang mặc có 01 cóng bằng thủy tinh, dài khoảng 10cm; 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart màu xanh.
Tại bản Kết luận giám định số 8375/KL-KTHS ngày 24/12/2023 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận:
“Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy loại Methemphetamine, khối lượng: 0,740 gam.”
Vật chứng vụ án
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ những đồ vật, tài sản gồm:
- Thu giữ của Đỗ Văn C những đồ vật, tài sản gồm: 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong phần vỏ nilong của bao thuốc lá có 01 túi nilong màu trắng, kích thước khoảng (2x3)cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 21K1-389.96; 01 điện thoại Iphone 6 màu vàng.
- Thu giữ của Hà Văn T: 01 cóng bằng thủy tinh, dài khoảng 10cm; 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart màu xanh.
Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Văn C và Hà Văn T khai nhận: Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 16/12/2023, T sử dụng tài khoản M1 mang tên “Tuấn con” nhắn tin và gọi điện đến tài khoản Messenger của C mang tên “Đỗ Văn C” nhờ C mua giúp 600.000 đồng ma túy “đá” để cùng sử dụng và trả nợ C số tiền 200.000 đồng. Sau đó, T đi đến khu vực hồ L, quận H, Hà Nội đưa cho Hà Minh Q (sinh năm 2000; trú tại thôn A, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang - là bạn của T) số tiền 800.000 đồng và nhờ Q chuyển khoản số tiền này đến tài khoản ngân hàng M3 số 99838629041999 của C. Khi nhận được tiền, C liên hệ với H1 (sử dụng tài khoản zalo mang tên “tulinh”) để hỏi mua 600.000 đồng tiền ma túy “đá”. Theo thỏa thuận, C đã chuyển khoản số tiền 600.000 đồng đến đến tài khoản ngân hàng V1 số 0964663180 mang tên S cho H1 rồi H1 bảo C đến lấy ma túy tại khu vực ngõ C phố L, phường Ô, quận Đ, Hà Nội (H1 chụp ảnh số ma túy để trong 01 bao thuốc lá Thăng Long gửi cho C). Sau đó, C hẹn T đến khu vực ga C, phường Ô, quận Đ, Hà Nội, tại đây C đưa cho T 01 coóng thủy tinh, dài khoảng 10cm rồi C điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 21K1 - 389.96 chở T đi vào đầu ngách D ngõ C phố L để lấy ma túy. Tại đây, khi thấy bao thuốc lá Thăng Long ở dưới đất đúng vị trí H1 chụp ảnh, C đã nhặt vỏ bao thuốc lá và thấy có túi nilon chứa ma túy đá ở phần vỏ nilon của bao thuốc lá. Ngay lúc này, tổ công tác Công an phường Ô tiến đến kiểm tra nên C hoảng sợ, dùng tay phải ném vỏ bảo thuốc ra đằng sau lưng, cách vị trí C đang đứng khoảng 01 mét. Còn T bỏ đi vào trong ngách D ngõ C phố L khoảng 10 mét thì bị Cơ quan Công an bắt giữ.
Đối với Hà Minh Q là người chuyển tiền hộ T, tại Cơ quan điều tra, Q khai T đưa 800.000 đồng tiền mặt cho Q nhờ Q chuyển khoản cho C. Q không biết mục đích T nhờ chuyển tiền để mua ma túy. Xét không liên quan đến hành vi của T nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với đối tượng H1 là người bán ma túy cho C, Công khai H1 là một nữ giới, C không biết họ tên đầy đủ, địa chỉ, chỉ biết H1 sử dụng tài khoản Zalo tên “tulinh”, số điện thoại 0964.663.xxx và tài khoản Ngân hàng V2 số 0964663180. Qua xác minh tại Công ty cổ phần V3 nhưng không xác định được chủ đăng ký và sử dụng tài khoản Zalo tên “tulinh".
Qua xác minh số điện thoại 0964.663.xxx có chủ đăng ký là anh Phí Mạnh T1 (sinh năm 1998; trú tại thôn B, xã H, huyện T, Hà Nội). Tại Cơ quan điều tra, anh T1 khai không đăng ký và sử dụng số điện thoại trên.
Qua xác minh tài khoản Ngân hàng V2 có chủ đăng ký tài khoản là Hoàng Thị Minh S1 (sinh năm 1990; trú tại thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn). Tiến hành cho Công nhận mặt S1, C khẳng định S1 không phải là người bán ma túy cho C. Cơ quan điều tra nhiều lần triệu tập Hoàng Thị Minh S1 nhưng S1 không có mặt tại nơi cư trú. Do đó, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách tài liệu liên quan đến Hoàng Thị Minh S1 để tiếp tục điều tra, xử lý.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 21K1 - 389.96. Tại Cơ quan điều tra, Công khai đây là xe máy của chị Dương Hoàng M (sinh năm 2003; trú tại xã V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang - là vợ của C). Tại Cơ quan điều tra, chị M khai mua chiếc xe máy trên của một người tên T2 (không xác định) với giá 7.500.000 đồng từ tháng 7/2023 để sử dụng. Qua xác minh chủ đăng ký xe là anh Lò Văn B1 (sinh năm 1973; trú tại Bản T, xã H, thị xã N, tỉnh Yên Bái). Tại Cơ quan điều tra, anh B1 khai mua và đăng ký chiếc xe trên vào khoảng năm 2018. Sau đó, đến năm 2020 do không có nhu cầu sử dụng nên anh B1 đã bán chiếc xe trên, thời gian bán xe đã lâu nên anh B1 không nhớ bán cho ai.
Cáo trạng số 63/CT-VKSĐĐ ngày 20/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã truy tố các bị cáo Đỗ Văn C và Hà Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo C và T thừa nhận việc bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và rất ân hận với hành vi phạm tội của mình, cùng đề nghị HĐXX cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để có thể sớm trở về với gia đình và xã hội để làm lại cuộc đời. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, chị Dương Hoàng M trình bày chiếc xe Honda Wave, biển kiểm soát 21K1 - 389.96 là vật chứng của vụ án đang bị thu giữ là xe của chị mua của một người khác từ tháng 7 năm 2023 và không còn giữ hợp đồng mua bán, chị cam kết việc mua bán chiếc xe máy trên là đúng pháp luật, chị không biết việc anh C lấy xe máy của chị đi mua ma tuý nên chị M đề nghị Hội đồng xét xử cho chị được nhận lại chiếc xe máy nói trên để sử dụng.
* Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đã nêu, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Văn T và bị cáo Đỗ Văn C từ 20 tháng tù đến 24 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ số ma tuý thu giữ của các bị cáo và 01 coóng thủy tinh, dài khoảng 10cm . Tịch thu sung công 01 điện thoại Iphone 6 màu vàng, màn hình vỡ (Imei: 359237067019393) thu giữ của bị cáo C, 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart màu xanh (Imeil: 358877982330093; Imei2: 358877982330101) thu giữ của bị cáo T. Trả lại cho chị Dương Hoàng M 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 21K1 - 389.96.
Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 BLHS.
Khi được nói lời sau cùng, bị cáo C và bị cáo T đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.
Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng.
Các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo nhận tội, không người tham gia tố tụng nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa các bị cáo công nhận nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng. Qua xét hỏi và tranh luận các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, người liên quan, phù hợp với tang vật, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 00 giờ 50 phút ngày 17/12/2023, tại khu vực đầu ngách D ngõ C phố L, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội, Đỗ Văn C và Hà Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,740 gam ma túy loại Methamphetamine thì bị cơ quan công an phường Ô, quận Đ phát hiện bắt giữ. Hành vi của Đỗ Văn C và Hà Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố các bị cáo để xét xử theo tội danh đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Xét thấy, đây là vụ án đồng phạm giản đơn, do muốn sử dụng ma tuý nên Hà Văn T đã chuyển tiền cho Đỗ Văn C nhờ C mua hộ ma tuý về để cùng sử dụng chung. Sau khi nhận được tiền, C liên lạc với người bán ma tuý để mua ma tuý, thoả thuận giá mua ma tuý, địa điểm hẹn lấy ma tuý rồi sử dụng xe máy chở C đến lấy ma tuý với mục đích sau khi lấy được ma tuý sẽ cùng sử dụng chung. Các bị cáo đến đầu ngách D ngõ C phố L, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội lấy ma tuý thì bị cơ quan công an phát hiện, bắt giữ.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, làm gia tăng các tệ nạn xã hội và là nguyên nhân phát sinh những hành vi vi phạm pháp luật khác. Bản thân các bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống của con người nhưng vẫn thực hiện. Do vậy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo và đảm bảo phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên khi lượng hình hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của từng bị cáo để áp dụng hình phạt. Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân xấu ( bị cáo T có 01 tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, bị cáo C có 01 tiền sự về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý) mặc dù đã được xoá án tích nhưng điều đó thể hiện thái độ coi thường pháp luật của các bị cáo, về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo đều không có việc làm và thu nhập nên miễn áp dụng hình phạt tiền.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với số ma tuý thu giữ của các bị cáo là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với 01 coóng thủy tinh, dài khoảng 10cm thu giữ của bị cáo T, xét đây là công cụ dùng để sử dụng ma tuý nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 21K1 - 389.96 thu giữ của bị cáo C là xe máy của chị Dương Hoàng M - vợ của C, chị M không biết việc C dùng chiếc xe máy này để dùng vào việc phạm tội, chị M cam đoan việc mua bán chiếc xe trên là hợp pháp và có đơn xin nhận lại chiếc xe máy trên. Xét thấy đây là tài sản hợp pháp của chị M, không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho chị Dương Thị M2.
- Đối với 01 điện thoại Iphone 6 màu vàng, màn hình vỡ (Imei: 359237067019393) thu giữ của bị cáo C, 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart màu xanh (Imeil: 358877982330093; Imei2: 358877982330101) thu giữ của bị cáo T, xét đây là phương tiện mà các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
[7] Các vấn đề khác:
Đối với Hà Minh Q là người chuyển tiền hộ T, tại Cơ quan điều tra, Q khai T đưa 800.000 đồng tiền mặt cho Q nhờ Q chuyển khoản cho C. Q không biết mục đích T nhờ chuyển tiền để mua ma túy. Xét không liên quan đến hành vi của T nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với đối tượng H1 là người bán ma túy cho C, Công khai H1 là một nữ giới, C không biết họ tên đầy đủ, địa chỉ, chỉ biết H1 sử dụng tài khoản Zalo tên “tulinh”, số điện thoại 0964.663.xxx và tài khoản Ngân hàng V2 số 0964663180. Qua xác minh tại Công ty cổ phần V3 nhưng không xác định được chủ đăng ký và sử dụng tài khoản Zalo tên “tulinh”. Qua xác minh số điện thoại 0964.663.xxx có chủ đăng ký là anh Phí Mạnh T1 (sinh năm 1998; trú tại thôn B, xã H, huyện T, Hà Nội). Tại Cơ quan điều tra, anh T1 khai không đăng ký và sử dụng số điện thoại trên nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Qua xác minh tài khoản Ngân hàng V2 có chủ đăng ký tài khoản là Hoàng Thị Minh S1 (sinh năm 1990; trú tại thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn). Tiến hành cho Công nhận mặt S1, C khẳng định S1 không phải là người bán ma túy cho C. Cơ quan điều tra nhiều lần triệu tập Hoàng Thị Minh S1 nhưng S1 không có mặt tại nơi cư trú. Do đó, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách tài liệu liên quan đến Hoàng Thị Minh S1 để tiếp tục điều tra, xử lý là đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.
- - Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, danh mục án phí kèm theo.
- Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn C và bị cáo Hà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Đỗ Văn C 24 ( hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2023.
Xử phạt bị cáo Hà Văn T 24 ( hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2023.
- Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ:
- + 01 bao niêm phong dán kín trên các mép dán có chữ ký của giám định viên, chữ ký của Đỗ Văn C, Cán bộ Công an phường Ô, người chứng kiến Phạm Đức Duy L, cùng hình dấu của Công an phường Ô và 01 coóng thủy tinh, dài khoảng 10cm.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
- 01 điện thoại Iphone 6 màu vàng, màn hình vỡ (Imei: 359237067019393); 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart màu xanh (Imeil: 358877982330093; Imei2: 358877982330101);
- Trả lại cho chị D1 H 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 21K1 - 389.96 (Số máy: JA39E– 0843449; Số khung: RLHJA3909HY863253);
Hiện các vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng số 188 ngày 03/5/2024.
- Án phí và quyền kháng cáo:
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thanh Tùng |
Bản án số 111/2024/HS - ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 111/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
