|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 111/2024/HNGĐ - ST Ngày: 20/8/2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nghi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thư
Bà Trương Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Khánh Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Quy – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 48/2024/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 22/2024/QĐST- HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1994 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa
Bị đơn: Anh Hoàng Hữu Đ, sinh năm 1993 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08/4/2024 và bản tự khai chị Trần Thị T trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Hoàng Hữu Đ kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn do UBND xã T, huyện H cấp ngày 31/8/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2017 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Đ chơi bời, nợ nần nhiều người đã đến nhà hỏi nợ, khoảng đầu năm 2018 thì vợ chồng vào M làm ăn, khoảng cuối năm thì chị và anh Đ về quê và chuẩn bị cho chị nghỉ sinh cháu thứ hai. Trong thời gian từ đầu 2019 đến khoảng tháng 10 năm 2023, do nợ nần bên ngoài không trả được nên anh Đ tiếp tục bị nhiều người đến hỏi nợ, thậm chí là đe dọa quấy phá, trong khi lại không có công ăn việc làm, chơi bời không tu chí làm ăn và xa đà vào con đường cờ bạc, cá cược... Mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên ngăn hòa giải, vợ chồng cũng đã cố gắng thay đổi môi trường để hòa hợp nhưng anh Đ vẫn không thay đổi, nên từ đó đến nay chị và anh Đ đã sống ly thân. Nay chị Trần Thị T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Hữu Đ.
- Về con chung: Trước khi đăng ký kết hôn, chị và anh Đ đã có con chung là cháu là: Cháu Hoàng Đức A, sinh ngày 12/8/2015, sau khi sinh con anh Đ là người trực tiếp đi làm thủ tục khai sinh cho cháu, trong thời gian từ 2015 đến cuối năm 2016 thì chị T và cháu vẫn ở gia đình bên ngoại, còn anh Đ vẫn ở gia đình bên nội. Tuy ở khác nhà nhưng là cùng thôn, nên việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hoàng Đức A hoàn toàn do chị và ông bà ngoại lo liệu. Đến năm 2017 chị về nhà anh Đ ở hẳn nên mới biết việc anh Đ chơi bời nợ nần. Đầu năm 2018 vợ chồng vào N làm ăn và chị mang thai cháu thứ hai là Hoàng Gia N, sinh ngày 05/3/2019. Hiện nay hai cháu đang ở nhà cùng với chị từ khi vợ chồng ly thân, còn anh Đ thì bỏ vắng không quan tâm, chăm sóc đến các cháu. Tuy nhiên thời gian gần đây, anh Đ thường xuyên gửi tiền về cho tôi để nuôi con, trung bình mỗi tháng từ 3,5 triệu đến 04 triệu đồng. Nay chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 cháu và yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị mỗi tháng ½ tháng lương cơ sở theo vùng. Để bảo đảm quyền nuôi con, chị T đã xuất trình thu nhập hàng tháng tại cơ sở lao động với mức thu nhập hàng tháng là 10 triệu đồng. Vì vậy, chị T đề nghị Tòa án giao cả hai cháu cho chị được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Về tài sản công nợ chung: Vợ chồng không có tài sản và công nợ chung nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn: Tại bản tự khai ngày 11/7/2024 anh Hoàng Hữu Đ trình bày:
Về hôn nhân: Anh Hoàng Hữu Đ và chị Trần Thị T, tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2015 được UBND xã T, huyện H cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến khoảng đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Lý do phát sinh mâu thuẫn là vào tháng 10/2023 anh Đ đi làm ăn ở Đồng Nai, đến tháng 3/2024 chị T bỏ nhà đi không rõ nguyên nhân, đến nay anh vẫn làm ăn trong Đồng Nai, do điều kiện xa xôi nên anh viết bản tự khai gửi về Tòa án. Nay chị T có đơn xin ly hôn thì anh Đ cũng đồng ý.
Về con chung anh Đ trình bày: Vợ chồng có 02 con chung như chị T trình bày. Khi ly hôn, anh Đại đồng ý với nguyện vọng các con phải sống chung với bố hoặc mẹ hoặc theo nguyện vọng của các con. Nếu chị T không nuôi con thì ủy quyền lại cho anh Đ nuôi cả 02 cháu. Về cấp dưỡng nuôi con, anh Đ đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng không có tài sản và công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản xác minh ngày 04/7/2024, cán bộ thôn X, xã T nơi chị T và anh Đ sinh sống cho biết; chị Trần Thị T và anh Hoàng Hữu Đ có 02 người con chung, sau khi kết hôn vợ chồng sống chung cùng gia đình anh Đ tại thôn X, xã T, nhưng thường xuyên có mâu thuẫn nhưng chỉ là những mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống hôn nhân, mỗi lần vợ chồng có mâu thuẫn, chị T thường về nhà ngoại cùng thôn để ở.
Tại phiên tòa lần hai bị đơn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm yêu cầu khởi kiện.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào nghị án là đầy đủ và đúng quy định của pháp luật tố tụng.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Trần Thị T được ly hôn với anh Hoàng Hữu Đ.
Về con chung: Công nhận chị T, anh Đ có 02 con chung là: Cháu Hoàng Đức A, sinh ngày 12/8/2015 và cháu Hoàng Gia N, sinh ngày 05/3/2019. Giao cho chị T được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai cháu. Anh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi cháu đồng/tháng, hai cháu 3.860.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng từ tháng 9 năm 2024. Sau khi ly hôn, anh Đ được quyền và nghĩa vụ qua lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung chị T và người thân không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, theo khoản 4 Điều 147 của BLTTDS và nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/6/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, về mức án phí, lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa. trên cơ sở ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc về việc chấp hành pháp luật tố tụng và ý kiến phát biểu về việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, có đủ cơ sở nhận định.
[1]. Về pháp luật tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được do bị đơn vắng mặt không có lý do.
[1.1]. Tại phiên tòa lần 2 bị đơn vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
[2]. Xét về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Hoàng Hữu Đ kết hôn với nhau trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, việc kết hôn được đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, vào năm 2015. Tại thời điểm đăng ký kết hôn không vi phạm quy định về độ tuổi và các điều kiện kết hôn khác theo Luật hôn nhân và gia đình. Như vậy, thời kỳ hôn nhân của anh chị được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
[2.1]. Xét yêu cầu ly hôn: Quá trình chung sống chị Trần Thị T và anh Hoàng Hữu Đ đều thừa nhận, trong cuộc sống vợ chồng luôn phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo chị T là do anh Đ chơi bời dẫn tới nợ nần phải bỏ trốn khỏi địa phương để đi làm ăn xa, vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, nên từ tháng 9/2023 đến nay vợ chồng đã sống ly thân; còn theo anh Đ mâu thuẫn chỉ là nhỏ nhặt phát sinh từ đời sống hôn nhân, hiện chị T đã bỏ về nhà ngoại sinh sống, tuy nhiên khi tiếp nhận thông tin chị T ly hôn thì anh Đ cũng đồng ý. Từ tháng 10/2023 đến nay, mặc dù anh đi làm ăn xa, nhưng vẫn thường xuyên liên lạc với nhau, nhưng kể từ đầu năm 2024 đến nay thì giữa anh và chị không ai còn quan tâm đến tình cảm và cuộc sống của nhau nữa. Như vậy, có cơ sở để khẳng định, giữa chị T và anh Đ đã không còn tình cảm vợ chồng, không còn thương yêu quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong đời sống hôn nhân và trên thực tế vợ chồng đã sống ly thân mà không ai còn quan tâm đến nhau. Nay chị Trần Thị T xin ly hôn với anh Hoàng Hữu Đ là có căn cứ, phù hợp tình trạng hôn nhân tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Thị T đối với anh Hoàng Hữu Đ là phù hợp tình trạng hôn nhân như hiện nay.
[3] Xét nguyện vọng nuôi con chung: Cháu Hoàng Đức A, sinh ngày 12/8/2015 trước khi anh Đ và chị T đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, cả anh và chị đều thừa nhận, cháu Hoàng Đức A là con chung của vợ chồng và chính anh Đ là người trực tiếp đi đăng ký khai sinh tại cơ quan hộ tịch cho các cháu. Tại bản tự khai anh Đ cũng thừa nhận vợ chồng có hai con chung là cháu Hoàng Đức A, sinh ngày 12/8/2015 và cháu Hoàng Gia N, sinh ngày 05/3/2019, nên giữa anh Đ không có tranh chấp về huyết thống đối với cháu Hoàng Đức A. Như vậy, trước và sau khi kết hôn, anh Đ và chị T, có hai con chung với nhau, nguyện vọng của chị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 cháu N1 thấy, yêu cầu nuôi con của chị T là có cơ sở, vì xuất phát từ việc anh Đ và chị T hay phát sinh mâu thuẫn nên anh Đ đang đi làm ăn xa tại Đồng Nai, nên không thể có điều kiện gần gũi, gắn bó để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, trong khi các cháu vẫn đang ở ổn định cùng với chị T và được chị T trực tiếp chăm sóc, sinh hoạt, học tập hàng ngày đối với các cháu. Để bảo đảm ổn định môi trường sống và học tập. Cần giao cho chị T được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu là phù hợp.
[3.1]. Về điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng: Quá trình giải quyết vụ án, chị T cung cấp bảng lương thu nhập hàng tháng của chị tại cơ sở lao động với mức thu nhập là 10.000.000 đồng/tháng, mức thu nhập này là thu nhập ổn định, đủ để bảo đảm phần nào cuộc sống và các chi phí sinh hoạt bình thường của chị và các cháu. Từ khi anh Đ và chị T sống ly thân, cháu Đức A và cháu Gia N vẫn luôn ở cùng chị T tại nhà ông bà ngoại, hàng ngày được sự giúp đỡ, hỗ trợ của ông bà ngoại đưa đón 2 cháu đi học. Do đó việc giao con cho chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cũng bảo đảm được về sự gắn bó thân thiết của con đối với cha mẹ và sự quan tâm của chị đối với các cháu, bảo đảm được mối liên hệ thân thiện của các con đối với cha, mẹ mà không bị xáo trộn môi trường sống và học tập đối với các cháu.
[3.2]. Tại bản tự khai, anh Đ yêu cầu Tòa án giải quyết về mức cấp dưỡng theo quy định pháp luật, còn chị T yêu cầu giải quyết mức cấp dưỡng theo mức lương tối thiểu vùng. Theo hướng dẫn tại Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình, thì mức cấp dưỡng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người được cấp dưỡng đang cư trú. Theo Nghị định số: 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ, quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo Hợp đồng lao động. Như vậy, anh Đ, chị T và các cháu đang có hộ khẩu tại xã T, huyện H, Thanh Hóa, thuộc vùng 3, mức lương tối thiểu vùng được quy định là 3.860.000đ/ tháng. Để bảo đảm điều kiện về chăm sóc, nuôi dưỡng và các chi phí hợp lý khác cho các cháu được phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần, cần buộc anh Đ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con hàng tháng, mỗi tháng là 1.930.000 đồng/cháu, hai cháu là 3.860.000 đồng/tháng. Thời gian cấp dưỡng lẽ ra được tính từ thời điểm anh Đ và chị T ly thân không còn chung sống với nhau, nhưng chị T chỉ yêu cầu cấp dưỡng đối với hai cháu kể từ tháng 8 năm 2024, vì thời gian gần đây anh Đ tháng nào cũng gửi tiền về cho chị, bình quân mỗi tháng từ 3.500.000 đồng đến 4.000.000 đồng để nuôi các cháu.
[5] Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Trần Thị T và anh Hoàng Hữu Đ đều không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[6] Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 1 Điều 24, khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc chị Trần Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự. Anh Đ phải nộp 300.000 đồng án phí đối với người có nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình 2014.
Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. (Ban hành kèm theo danh mục án phí, lệ phí Tòa án).
Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị T, chị Trần Thị T được ly hôn với anh Hoàng Hữu Đ.
Về con chung: Công nhận cháu Hoàng Đức A, sinh ngày 12/8/2015 và cháu Hoàng Gia N, sinh ngày 05/3/2019 là con chung của anh Đ và chị T. Giao cho chị T được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hoàng Đức A và cháu Hoàng Gia N. Buộc anh Đ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con hàng tháng, mỗi cháu là 1.930.000 đồng/tháng, hai cháu là 3.860.000 đồng/tháng. Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 8 năm 2024. Sau khi ly hôn anh Đ có quyền, nghĩa vụ qua lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung chị T và người thân không ai được cản trở.
Về tài sản chung, công nợ chung: Đương sự chưa yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Trần Thị T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003246 ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc. Anh Đ phải nộp 300.000 đồng án phí đối với người có nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ.
Án xử công khai, chị T có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Đ có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niên yết tại UBND xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - VKSND huyện Hậu Lộc; - Đương sự; - Chi cục THADS H. Hậu Lộc; - UBND xã Tiến Lộc; - Lưu HSVA |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Nghi |
Bản án số 111/2024/HNGĐ - ST ngày 20/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 111/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
