|
TÒA ÁN NHÂN DÂN T.P PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 111/2024/HSST Ngày: 19/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Tôn;
Ông Bùi Quý Minh Ánh.
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thương Thương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tham gia phiên toà: Bà Lê Phương Thuỳ - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thụ lý số: 89/2024/TLST-HS ngày 13/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2024/QĐXXST-HS ngày 04/7/2024; đối với:
Bị cáo: Phạm Sỹ P (tên gọi khác: Không), sinh năm 1993.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm T, xã T, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không. Con ông Phạm Sỹ K và bà Dương Thị H; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/02/2024, đến ngày 04/3/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt).
Bị cáo: Trần Hiển H1 (tên gọi khác: Không), sinh năm 1990.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không. Con ông Trần Hiển V và bà Nguyễn Thị H2; Có vợ là Phạm Thị Thanh N và 03 con (lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2017).
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/02/2024, đến ngày 04/3/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. (Có mặt).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Phạm Thị Thanh N, sinh năm 1991; Địa chỉ: TDP T, phường Đ, T.P P, tỉnh Thái Nguyên.
+ Ông Lê Văn T, sinh năm 1969; Địa chỉ: TDP Đ, phường H, T.P P, tỉnh Thái Nguyên;
(Chị N có mặt, ông T có đơn xin xét xử vắng mặt)
* Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1984; Địa chỉ: TDP N, phường C, T.P S, tỉnh Thái Nguyên.
(Anh T1 vắng mặt)
* Người chứng kiến:
+ Ông Đặng Văn G, sinh năm 1962; Địa chỉ: TDP Đ, phường H, T.P P, tỉnh Thái Nguyên.
+ Ông Trần Văn S, sinh năm 1968; Địa chỉ: TDP Đ, phường H, T.P P, tỉnh Thái Nguyên.
(Ông G, anh S vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 10 phút ngày 24/02/2024, tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy, Công an thành phố P phối hợp cùng Công an phường H, thành phố P phát hiện tại nhà nghỉ S1 thuộc tổ dân phố Đ, phường H, thành phố P do ông Lê Văn T làm chủ, đang có một số đối tượng tụ tập có biểu hiệu nghi vấn tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Vào bên trong nhà nghỉ S1 thì phát hiện một người nam giới tên Nguyễn Văn T1 đang ở tại khu vực lễ tân và 02 đối tượng là Trần Hiển H1 và Phạm Sỹ P tại phòng số 04. Quá trình kiểm tra phòng số 04, phát hiện: trong thùng đựng rác tại phòng vệ sinh có 01 chai nhựa màu trắng, có nắp màu vàng, trên nắp có hai lỗ nhỏ, một lỗ có cắm một ống hút màu vàng, ở đầu ống hút có gắn giấy bạc được cuộn tròn, trong chai nhựa có nhiều ống hút nhựa nhiều màu sắc, có chứa chất lỏng (niêm phong ký hiệu A) và 01 mảnh giấy bạc được vo tròn, khi mở ra thấy một mặt bám dính vật chất màu đen (niêm phong ký hiệu B); trên nền phòng vệ sinh có 01 ống hút nhựa được gắn bởi hai đoạn ống hút nhựa màu cam và màu hồng (niêm phong ký hiệu C). Phát hiện trên mặt đệm kê trên giường trong phòng có: 01 đoạn ống hút nhựa, một đầu cắt vát, một đầu bịt kín; 01 túi ni lông màu trắng, bên trong không đựng gì; 01 mảnh túi ni lông có viền màu xanh (tất cả niêm phong ký hiệu D); 01 mảnh giấy bạc, một mặt có bám dính vật chất màu hồng (niêm phong ký hiệu K); 01 mảnh dao tem bằng kim loại, đã qua sử dụng (niêm phong ký hiệu E); 01 đĩa nhựa màu cam; 05 bật lửa ga màu đỏ; 01 bật lửa ga màu trắng; 01 bật lửa ga màu vàng; 10 đoạn ống hút nhựa nhiều màu; 03 đoạn ống hút một đầu được cắt vát, một đầu được bịt kín (tất cả niêm phong ký hiệu NS2 2105327); 02 cuộn giấy bạc và 05 mảnh giấy bạc không bám dính gì; 02 mảnh giấy bạc được cuộn tròn; 01 nắp chai nhựa màu trắng; 01 túi ni lông màu xanh (tất cả niêm phong ký hiệu J1); 01 túi ni lông có viền màu xanh, bên trong không chứa gì (niêm phong ký hiệu D1) và số tiền 3.376.000 đồng (Ba triệu ba trăm bảy mươi sáu nghìn đồng) thu giữ trong ví da của Phạm Sỹ P (niêm phong ký hiệu F). Phát hiện dưới đệm, trên dát giường có: 10 đoạn ống hút nhựa nhiều màu sắc; 17 mảnh giấy bạc (tất cả niêm phong ký hiệu G); 02 túi ni lông có viền màu xanh, bên trong không chứa gì (niêm phong ký hiệu H). Phát hiện dưới gầm giường có: 01 chai nhựa màu trắng, nắp màu trắng, bên trong có chất lỏng và nhiều đoạn ống hút nhựa nhiều màu sắc cùng 01 mảnh giấy bạc được cuộn tròn (tất cả niêm phong ký hiệu H1). Kiểm tra trên người Trần Hiển H1, phát hiện 01 bật lửa ga màu tím tại túi quần phía trước bên trái đang mặc của H1 (niêm phong ký hiệu J); kiểm tra trên người Phạm Sỹ P không phát hiện đồ vật gì. Những đồ vật trên Trần Hiển H1 và Phạm Sỹ P khai được H1 và P dùng vào việc sử dụng ma túy “ngựa” và ma túy “đá” tại phòng số 04 nhà nghỉ S1. Ngoài ra, tổ công tác tạm giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh, lắp sim số 0983.013.193 của Phạm Sỹ P; 01 điện thoại di động nhãn hiệu S2 9, màu đen, lắp 02 sim số 0367.783.895 và 0981.533.490 của Trần Hiển H1; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anphal, màu trắng, BKS: 20H1-210.12, đã qua sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản sự việc, thu giữ, niêm phong vật chứng để giải quyết theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P tiến hành test nhanh xét nghiệm nước tiểu tìm chất ma tuý đối với Trần Hiển H1 và Phạm Sỹ P; kết quả: Hành và P đều có kết quả dương tính với MET và AMP.
Tại Kết luận giám định số 393/KL-KTHS ngày 03/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Chất lỏng đựng trong chai nhựa được niêm phong trong hộp ký hiệu A gửi giám định có thành phần của chất ma tuý, loại Methamphetamine. Trên bề mặt ống hút nhựa, mảnh giấy bạc cuộn tròn gắn trên đầu ống hút niêm phong trong hộp niêm phong ký hiệu A gửi giám định có bám dính chất ma tuý, loại Methamphetamine. Trên bề mặt mẫu gửi giám định trong các bì niêm phong ký hiệu C, D, K gửi giám định có bám dính chất ma tuý, loại Methamphetamine.
Tại Kết luận giám định số 1634/KL-KTHS ngày 19/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Tìm thấy chất ma tuý Methaphetamine bám dính trên mảnh giấy bạc niêm phong trong phong bì ký hiệu B gửi giám định.
Quá trình điều tra, Phạm Sỹ P và Trần Hiển H1 khai nhận: Vào khoảng hơn 07 giờ 40 phút ngày 24/02/2024, P đi từ nhà đến Trung tâm y tế P1 (cũ) để uống thuốc Methadone. Sau khi uống thuốc Methadone xong, P đi nhờ xe của người dân từ khu vực phường B, thành phố P đến khu vực phường T, thành phố P để mua ma túy sử dụng. Khi đi qua khu vực trường THPT P2, P bảo người chở P dừng xe lại, do điện thoại của P hết pin nên P mượn điện thoại của người này rồi gọi cho một người nam giới (P không biết tên, tuổi, địa chỉ) để hỏi mua 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) ma túy "đá" và "ngựa" thì người bán ma túy đồng ý và bảo P đứng đợi. Sau đó, P trả điện thoại cho người lái xe rồi người lái xe đi đâu P không biết. Một lúc sau có 01 người nam giới đi đến (P không biết người nam giới này là ai), P đưa cho người nam giới số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), người nam giới cầm tiền sau đó vứt 01 túi ni lông xuống rìa hành lang đường gần chỗ P đứng rồi rời đi, bên trong túi ni lông có chứa chất rắn dạng tinh thể là ma túy "đá" và một viên nén màu đỏ là ma túy "ngựa". P nhặt túi ma túy lên rồi cất vào trong người rồi tiếp tục bắt xe người đi đường đi về khu vực Trung tâm y tế P1 (cũ) thì gặp Trần Hiển H1 đi uống Methadone tại đây. Trước đó H1 gọi điện cho P để nhờ P đến đón (H1 để lại xe mô tô ở quán để sửa) nhưng P bảo không có xe đồng thời P rủ H1 uống Methadone xong thì đi sử dụng ma túy, H1 đồng ý. Sau khi gặp H1, P nói với H1 là đang có sẵn ma túy "đá" và "ngựa", H1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anphal, màu trắng, BKS 20H1-210.12 của H1 chở P đi đến nhà nghỉ S1 thuộc tổ dân phố Đ, phường H. Khi đến nhà nghỉ, H1 gọi chủ quán nhưng không ai trả lời, H1 và P tự đi vào phòng số 04 của nhà nghỉ. Khi vừa đến cửa phòng thì có 01 người nam giới (sau này P và H1 biết người này tên là Nguyễn Văn T1) đi đến bảo P và H1 đi vào phòng, chủ nhà nghỉ không có nhà. P và H1 tự đi vào phòng số 04 thì thấy trên mặt giường không có đồ vật gì, phía dưới gầm giường có 01 túi ni lông màu xanh, bên trong có một nắp chai nhựa màu vàng, trên mặt nắp bị đục thủng 02 lỗ nhỏ, 02 cuộn giấy bạc, nhiều đoạn ống hút nhiều màu sắc, nhiều bật lửa đều đã qua sử dụng và một chai nhựa màu trắng có nắp màu trắng, bên trong có chứa chất lỏng; trên mặt bàn kê trong phòng có 01 đĩa nhựa màu cam trên mặt đĩa có 01 mảnh dao tem. Sau đó, P lấy túi ma túy vừa mua được ra để lên mặt giường, H1 lấy túi ni lông màu xanh, bên trong có chứa các đồ vật trên để lên mặt giường. P mang đĩa nhựa có chứa mảnh dao tem để lên mặt giường rồi lấy chai nhựa có chứa chất lỏng ra, tháo nắp nhựa màu trắng và thay bằng nắp nhựa màu vàng, trên mặt nắp có hai lỗ nhỏ để lên đĩa nhựa màu cam. Sau đó, P dùng dao tem cắt miệng túi ni lông có viền màu xanh chứa ma túy "đá" và "ngựa" rồi đổ ma túy ra đĩa còn H1 xé giấy bạc từ 01 cuộn giấy bạc ra, vuốt mảnh giấy bạc cho thẳng để đựng và đốt ma túy. P lấy viên ma túy "ngựa" cho vào 01 mảnh giấy bạc được xé từ cuộn giấy bạc rồi gấp mảnh giấy bạc lại, sau đó P dùng bật lửa nghiền ma túy “ngựa” ra, số ma túy “ngựa” được nghiền ra P để lên mặt giường. Hành đổ ma túy "đá" trong túi ni lông ra mảnh giấy bạc đã vuốt trước đó và đổ số ma túy “ngựa” P vừa nghiền vào chung với ma túy "đá” rồi H1 lấy 01 đoạn ống hút một đầu được cắt vát để lấy hết số ma túy còn bám trong túi và mảnh giấy ra. Túi ni lông đựng ma túy Hành để lên mặt đĩa, phần miệng túi ni lông bị cắt ra P để trên mặt giường, H1 tiếp tục xé giấy bạc ra rồi cuộn tròn lại để đút vào một đầu ống hút với mục đích để đầu ống hút nhựa không bị nóng chảy sun lại. Hành lấy chai nhựa mà P đã thay nắp nhựa trước đó rồi lấy các ống hút cắm vào hai lỗ trên nắp nhựa, sau đó H1 dùng bật lửa ga hơ nóng mặt dưới mảnh giấy bạc chứa ma túy và để mảnh giấy bạc dưới đầu ống hút có gắn giấy bạc, đầu ống hút còn lại thì P ngậm vào miệng và hít khói ma túy đã được lọc qua chai nước. P sử dụng xong thì H1 tự sử dụng với cách thức như trên. Sau khi sử dụng hết ma túy, H1 vứt chai nhựa và mảnh giấy bạc vào sọt rác trong nhà vệ sinh. Một lúc sau thì lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện và thu giữ toàn bộ đồ vật có liên quan.
Vật chứng của vụ án: Số tiền 3.376.000 đồng (Ba triệu ba trăm bảy mươi sáu nghìn đồng); 01 phong bì niêm phong ký hiệu A, bên trong có 01 chai nhựa màu trắng, có nắp màu vàng, trên nắp có hai lỗ nhỏ, một lỗ có cắm một ống hút màu vàng, ở đầu ống hút còn lại gắn giấy bạc được cuộn tròn, trong chai nhựa có nhiều ống hút nhựa nhiều màu sắc còn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong ký hiệu C, bên trong có 01 ống hút nhựa được gắn bởi 02 đoạn ống hút nhựa màu cam và màu hồng còn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong ký hiệu D, bên trong có 01 đoạn ống hút nhựa, một đầu cắt vát, một đầu bịt kín; 01 túi ni lông màu trắng, bên trong không đựng gì; 01 mảnh túi ni lông có viền màu xanh còn lại sau giám định; 01 túi niêm phong ký hiệu NS2 2105327, bên trong có 01 đĩa nhựa màu cam; 05 bật lửa ga màu đỏ, 01 bật lửa ga màu trắng, 01 bật lửa ga màu vàng; 10 đoạn ống hút nhựa nhiều màu; 03 đoạn ống hút một đầu được cắt vát, một đầu được bịt kín. 01 phong bì niêm phong ký hiệu D1, bên trong có 01 túi ni lông có viền màu xanh, bên trong không chứa gì; 01 phong bì niêm phong ký hiệu E, bên trong có 01 mảnh dao tem bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 phong bì niêm phong ký hiệu G, bên trong có 10 đoạn ống hút nhựa nhiều màu sắc và 17 mảnh giấy bạc; 01 phong bì niêm phong ký hiệu H, bên trong có 02 túi ni lông có viền màu xanh, bên trong không chứa gì; 01 hộp cát tông niêm phong ký hiệu H1, bên trong có 01 chai nhựa màu trắng, nắp màu trắng, bên trong có chất lỏng, nhiều đoạn ống hút nhựa nhiều màu và 01 mảnh giấy bạc được cuộn tròn; 01 phong bì ký hiệu J, bên trong có 01 bật lửa ga màu tím; 01 hộp cát tông niêm phong ký hiệu J1, bên trong có 02 cuộn giấy bạc và 05 mảnh giấy bạc không bám dính gì, 02 mảnh giấy bạc được cuộn tròn, 01 nắp chai nhựa màu trắng, 01 túi ni lông màu xanh; 01 phong bì niêm phong ký hiệu K, bên trong có 01 mảnh giấy bạc, một mặt có bám dính vật chất màu hồng còn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong số 1634/KL-KTHS, bên trong có 01 mảnh giấy bạc và vỏ bao gói mẫu sau giám định; 01 phong bì niêm phong ký hiệu T2, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh, lắp sim số 0983.013.193, đã qua sử dụng tạm giữ của Phạm Sỹ P; 01 phong bì niêm phong ký hiệu T, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 9, màu đen, số IMEI 1: 357174096291804/01, số IMEI 2: 357174096291804/01, lắp 02 sim Viettel số 0367.783.xxx và 0981.533.490 tạm giữ của Trần Hiển H1; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anphal, màu trắng, BKS 20H1-210.12, đã qua sử dụng. Tất cả số vật chứng trên được chuyển đến tài khoản và kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý.
Với nội dung nêu trên, Cáo trạng số: 103/CT-VKSPY ngày 19/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố Phạm Sỹ P, Trần Hiển H1 về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc truy tố, xét xử các bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên thực hiện quyền công tố tại phiên toà phát biểu luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 58 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Sỹ P, Trần Hiển H1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Sỹ P từ 30 tháng đến 36 tháng tù.
Xử phạt bị cáo Trần Hiển H1 từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Lê Văn T không yêu cầu các bị cáo phải trả tiền thuê phòng và sử dụng dịch vụ tại nhà nghỉ S1 của ông nên không xem xét, giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số công cụ, phương tiện phạm tội thu giữ được và vỏ bao gói mẫu còn lại sau giám định: 01 phong bì niêm phong ký hiệu A, bên trong có 01 chai nhựa màu trắng, có nắp màu vàng, trên nắp có hai lỗ nhỏ, một lỗ có cắm một ống hút màu vàng, ở đầu ống hút còn lại gắn giấy bạc được cuộn tròn, trong chai nhựa có nhiều ống hút nhựa nhiều màu sắc còn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong ký hiệu C, bên trong có 01 ống hút nhựa được gắn bởi 02 đoạn ống hút nhựa màu cam và màu hồng còn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong ký hiệu D, bên trong có 01 đoạn ống hút nhựa, một đầu cắt vát, một đầu bịt kín; 01 túi ni lông màu trắng, bên trong không đựng gì; 01 mảnh túi ni lông có viền màu xanh còn lại sau giám định. 01 túi niêm phong ký hiệu NS2 2105327, bên trong có 01 đĩa nhựa màu cam; 05 bật lửa ga màu đỏ, 01 bật lửa ga màu trắng, 01 bật lửa ga màu vàng; 10 đoạn ống hút nhựa nhiều màu; 03 đoạn ống hút một đầu được cắt vát, một đầu được bịt kín. 01 phong bì niêm phong ký hiệu D1, bên trong có 01 túi ni lông có viền màu xanh, bên trong không chứa gì; 01 phong bì niêm phong ký hiệu E, bên trong có 01 mảnh dao tem bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 phong bì niêm phong ký hiệu G, bên trong có 10 đoạn ống hút nhựa nhiều màu sắc và 17 mảnh giấy bạc; 01 phong bì niêm phong ký hiệu H, bên trong có 02 túi ni lông có viền màu xanh, bên trong không chứa gì; 01 hộp cát tông niêm phong ký hiệu H1, bên trong có 01 chai nhựa màu trắng, nắp màu trắng, bên trong có chất lỏng, nhiều đoạn ống hút nhựa nhiều màu và 01 mảnh giấy bạc được cuộn tròn; 01 phong bì ký hiệu J, bên trong có 01 bật lửa ga màu tím; 01 hộp cát tông niêm phong ký hiệu J1, bên trong có 02 cuộn giấy bạc và 05 mảnh giấy bạc không bám dính gì, 02 mảnh giấy bạc được cuộn tròn, 01 nắp chai nhựa màu trắng, 01 túi ni lông màu xanh; 01 phong bì niêm phong ký hiệu K, bên trong có 01 mảnh giấy bạc, một mặt có bám dính vật chất màu hồng còn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong số 1634/KL-KTHS, bên trong có 01 mảnh giấy bạc và vỏ bao gói mẫu sau giám định.
Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh, lắp sim số 0983.013.193, đã qua sử dụng và số tiền 3.376.000 đồng (ba triệu ba trăm bảy mươi sáu nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1 cho bị cáo Phạm Sỹ P để quản lý sử dụng.
Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 9, màu đen, số IMEI 1: 357174096291804/01, số IMEI 2: 357174096291804/01, lắp 02 sim Viettel số 0367.783.xxx và 0981.533.490 cho bị cáo Trần Hiển H1 để quản lý sử dụng.
Trả lại cho bị cáo Trần Hiển H1 và chị Phạm Thị Thanh N 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anphal, màu trắng, BKS 20H1-210.12, đã qua sử dụng, đăng ký mang tên bị cáo Trần Hiển H1 để quản lý, sử dụng.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (chị Phạm Thị Thanh N) nhất trí với Luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không đưa ra quan điểm đối đáp, tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đã thấy việc làm của mình là sai trái, vi phạm pháp luật và xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra vụ án, các quyết định và các hành vi tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện là đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tất cả các Quyết định tố tụng trong vụ án đều được lập, giao nhận cho những người tham gia tố tụng theo đúng trình tự pháp luật quy định. Các tài liệu, chứng cứ đã thu thập đều phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án, phù hợp với diễn biến của phiên tòa và có đủ cơ sở để chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Những người tham gia tố tụng đã được Toà án triệu tập hợp lệ tuy nhiên tại phiên toà, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (ông Lê Văn T) vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt; người làm chứng và những người chứng kiến đều vắng mặt không vì trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng. Hội đồng xét xử thấy rằng, trong hồ sơ vụ án đã có lời khai thể hiện quan điểm của họ, Kiểm sát viên, các bị cáo và đương sự có mặt đề nghị tiếp tục xét xử. Xét thấy việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 292, 293, 296 Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, người chứng kiến, diễn biến vụ án, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã thu thập. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào buổi sáng ngày 24/02/2024, tại phòng số 04 của nhà nghỉ S1 thuộc tổ dân phố Đ, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, Phạm Sỹ P và Trần Hiển H1 đã có hành vi thống nhất cùng nhau sử dụng ma tuý loại Methamphetamine. Trong đó P mua ma túy và chuẩn bị các công cụ để sử dụng ma túy, sau đó P và H1 sử dụng ma túy bằng cách nghiền ma túy loại Methamphetamine (gồm chất rắn dạng tinh thể và viên nén màu đỏ), trộn lẫn trên giấy bạc, hơ nóng rồi hít trực tiếp vào cơ thể. P và H1 sử dụng ma tuý đến khoảng 10 giờ 10 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an phát hiện, thu giữ vật chứng.
Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số: 103/CT-VKSPY ngày 19/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên truy tố bị cáo Phạm Sỹ P và bị cáo Trần Hiển H1 về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ.
“Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm...”.
[4]. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của các bị cáo:
Xét tính chất, mức độ nghiệm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Quá trình sinh sống tại địa phương, các bị cáo đều được gia đình nuôi ăn học (bị cáo P học hết lớp 9/12; bị cáo H1 học hết lớp 12/12), chưa có tiền án tiền sự, là người có nhân thân tốt.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên cùng được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo Phạm Sỹ P, Trần Hiển H1 cố ý cùng thực hiện một tội phạm nên là đồng phạm theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự nhưng là đồng phạm giản đơn, bởi hành vi của các bị cáo là bột phát, không có sự câu kết chặt chẽ với nhau giữa những người thực hiện tội phạm. Bị cáo Phạm Sỹ P là người có ma tuý, thực hiện hành vi cung cấp ma túy, chuẩn bị công cụ cho việc sử dụng trái phép chất ma túy như: nắp chai nhựa màu vàng bị đục thủng 02 lỗ nhỏ, cuộn giấy bạc, nhiều đoạn ống hút nhiều màu sắc, bật lửa và một chai nhựa màu trắng có nắp màu trắng, bên trong có chứa chất lỏng, đĩa nhựa, dao tem,... Đồng thời P là người đổ ma tuý ra đĩa, nghiền số ma tuý “ngựa” để phục vụ cho việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên bị cáo P giữ vai trò cao hơn trong vụ án; Bị cáo Trần Hiển H1 là người trực tiếp chở bị cáo P đi thuê phòng nghỉ số 4 tại nhà nghỉ S1 để thực hiện việc cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy và còn cùng bị cáo P chuẩn bị các dụng cụ cần thiết để sử dụng trái phép chất ma tuý như: Xé mảnh giấy bạc để đựng và đốt ma tuý, trộn ma tuý “đá” và “ngựa” vào nhau, chuẩn bị ống hút và chai nước, bật lửa, thực hiện các thao tác để hít được ma tuý. Dó đó, Hội đồng xét xử xác định bị cáo H1 có vai trò thấp hơn.
[5]. Về hình phạt: Các bị cáo đều là người trưởng thành, được gia đình nuôi ăn học, có đủ nhận thức để hiểu được tác hại của ma tuý và các quy định của pháp luật về quản lý các chất ma tuý cũng như các chế tài hình sự đối với các hành vi phạm tội về ma tuý nhưng vì ham chơi, sa ngã nên vẫn bất chấp hậu quả, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do vậy, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung. Xét thấy, mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên toà là phù hợp có căn cứ được chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép không nhằm mục đích vụ lợi, bản thân các bị cáo cũng là người nghiện ma tuý, không có tài sản gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Trong vụ án này, các bị cáo đã thuê phòng nghỉ số 4 nhà nghỉ S1 do ông Lê Văn T làm chủ. Ông T xác định các bị cáo đã sử dụng dịch vụ trong khoảng hơn 01 giờ tại nhà nghỉ của ông, đáng lẽ phải trả số tiền tương ứng là khoảng 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) nhưng các bị cáo đã bị bắt giam, ông không yêu cầu các bị cáo phải trả lại cho ông số tiền trên nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7]. Về xử lý vật chứng:
Toàn bộ công cụ, phương tiện phạm tội thu giữ được và vỏ bao gói mẫu còn lại sau giám định không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ, gồm: 01 phong bì niêm phong ký hiệu A, bên trong có 01 chai nhựa màu trắng, có nắp màu vàng, trên nắp có hai lỗ nhỏ, một lỗ có cắm một ống hút màu vàng, ở đầu ống hút còn lại gắn giấy bạc được cuộn tròn, trong chai nhựa có nhiều ống hút nhựa nhiều màu sắc còn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong ký hiệu C, bên trong có 01 ống hút nhựa được gắn bởi 02 đoạn ống hút nhựa màu cam và màu hồng còn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong ký hiệu D, bên trong có 01 đoạn ống hút nhựa, một đầu cắt vát, một đầu bịt kín; 01 túi ni lông màu trắng, bên trong không đựng gì; 01 mảnh túi ni lông có viền màu xanh còn lại sau giám định. 01 túi niêm phong ký hiệu NS2 2105327, bên trong có 01 đĩa nhựa màu cam; 05 bật lửa ga màu đỏ, 01 bật lửa ga màu trắng, 01 bật lửa ga màu vàng; 10 đoạn ống hút nhựa nhiều màu; 03 đoạn ống hút một đầu được cắt vát, một đầu được bịt kín. 01 phong bì niêm phong ký hiệu D1, bên trong có 01 túi ni lông có viền màu xanh, bên trong không chứa gì; 01 phong bì niêm phong ký hiệu E, bên trong có 01 mảnh dao tem bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 phong bì niêm phong ký hiệu G, bên trong có 10 đoạn ống hút nhựa nhiều màu sắc và 17 mảnh giấy bạc; 01 phong bì niêm phong ký hiệu H, bên trong có 02 túi ni lông có viền màu xanh, bên trong không chứa gì; 01 hộp cát tông niêm phong ký hiệu H1, bên trong có 01 chai nhựa màu trắng, nắp màu trắng, bên trong có chất lỏng, nhiều đoạn ống hút nhựa nhiều màu và 01 mảnh giấy bạc được cuộn tròn; 01 phong bì ký hiệu J, bên trong có 01 bật lửa ga màu tím; 01 hộp cát tông niêm phong ký hiệu J1, bên trong có 02 cuộn giấy bạc và 05 mảnh giấy bạc không bám dính gì, 02 mảnh giấy bạc được cuộn tròn, 01 nắp chai nhựa màu trắng, 01 túi ni lông màu xanh; 01 phong bì niêm phong ký hiệu K, bên trong có 01 mảnh giấy bạc, một mặt có bám dính vật chất màu hồng còn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong số 1634/KL-KTHS, bên trong có 01 mảnh giấy bạc và vỏ bao gói mẫu sau giám định.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh, lắp sim số 0983.013.193, đã qua sử dụng tạm giữ của Phạm Sỹ P, bị cáo P xác định không sử dụng vào việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo nhưng Hội đồng xét xử cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 9, màu đen, số IMEI 1: 357174096291804/01, số IMEI 2: 357174096291804/01, lắp 02 sim Viettel số 0367.783.xxx và 0981.533.490 tạm giữ của Trần Hiển H1, tại phiên toà bị cáo xác định bị cáo không sử dụng chiếc điện thoại này để liên lạc với bị cáo P để rủ nhau cùng sử dụng ma tuý, bị cáo P cũng thừa nhận hai bị cáo gặp nhau ở trước cổng Trung tâm Y tế và rủ nhau bằng lời nói chứ không dùng điện thoại để liên hệ, cần trả lại cho bị cáo nhưng Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với số tiền 3.376.000 đồng tiền Ngân hàng N1 không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Phạm Sỹ P.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anphal, màu trắng, BKS 20H1-210.12, đã qua sử dụng, đăng ký mang tên bị cáo Trần Hiển H1. Đây là tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, mặc dù chỉ ghi tên của bị cáo Trần Hiển H1 nhưng cần xác định là tài sản chung của vợ chồng. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo H1 và chị N đều xác định nguồn tiền để mua xe là tiền riêng của chị N, bị cáo H1 là người đi mua xe và làm thủ tục đăng ký xe theo quy định của pháp luật. Chiếc xe này cũng là phương tiện duy nhất chị N sử dụng để đi làm việc. Ngày 24/02/2024 chị N nhờ bị cáo H1 đi sửa xe, chị N không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe này để đi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Chị N đề nghị được xin lại chiếc xe làm phương tiện đi lại là có căn cứ, cần chấp nhận.
[8]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9]. Về các vấn đề khác:
Về nguồn gốc số ma tuý P khai mua của một người nam giới tại khu vực trường Trung học phổ thông P2 thuộc phường T, thành phố P. P không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người này, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh, khi có căn cứ sẽ đề nghị xử lý theo quy định.
Đối với anh Nguyễn Văn T1 được ông Lê Văn T nhờ trông coi nhà nghỉ S1 khi ông Lê Văn T vắng nhà. Quá trình điều tra xác định buổi sáng ngày 24/02/2024, anh T không biết P và H1 tổ chức sử dụng ma tuý tại phòng 04 của nhà nghỉ, anh T không tham gia và không được hưởng lợi gì. Đối với ông Lê Văn T, thời điểm P và H1 đến thuê phòng để sử dụng ma tuý, ông T không có mặt tại nhà nghỉ và không biết việc P và H1 sử dụng ma tuý. Do vậy Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với anh Nguyễn Văn T1 và ông Lê Văn T là phù hợp.
Trong vụ án này còn có người điều khiển xe mô tô chở P đi mua ma túy và cho P mượn điện thoại để liên lạc với người bán ma túy. P không biết họ tên, địa chỉ của người này nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.
[10]. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về các vấn đề trong vụ án là có căn cứ, phù hợp, cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự;
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Sỹ P, bị cáo Trần Hiển H1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Sỹ P 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 24/02/2024.
Xử phạt bị cáo Trần Hiển H1 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 24/02/2024.
Quyết định tạm giam các bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Ông Lê Văn T không yêu cầu các bị cáo phải trả tiền thuê phòng và sử dụng dịch vụ tại Nhà nghỉ S1 của ông nên không xem xét, giải quyết.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự:
* Tịch thu tiêu huỷ:
- - 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu A ghi hoàn trả mẫu A còn lại sau giám định;
- - 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu C ghi hoàn trả mẫu C còn lại sau giám định;
- - 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu D ghi hoàn trả mẫu D còn lại sau giám định;
- - 01 túi niêm phong mã số NS2 2105327 ghi bên trong có: 01 đĩa nhựa màu cam, 05 bật lửa màu đỏ, 01 bật lửa màu trắng, 10 đoạn ống hút nhựa nhiều màu, 03 đoạn ống hút một đầu được cắt vát, một đầu được bịt kín;
- - 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu D1 ghi bên trong có 01 túi nilon;
- - 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu E ghi bên trong có 01 mảnh dao tem bằng kim loại;
- - 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu G ghi bên trong có 17 mảnh giấy bạc và 10 đoạn ống hút;
- - 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu H ghi bên trong có 02 túi nilon, viền màu xanh bên trong không chứa gì;
- - 01 hộp cattong được niêm phong có dấu đỏ ký hiệu H1 ghi bên trong có chai nhựa màu trắng, nắp trắng bên trong có chất lỏng, nhiều đoạn ống hút nhựa nhiều màu và 01 mảnh giấy bạc được cuộn tròn;
- - 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu J ghi bên trong có 01 bật lửa ga màu tím đã qua sử dụng;
- - 01 hộp cattong được niêm phong có dấu đỏ ký hiệu J1 ghi bên trong có 02 cuộn giấy bạc và 05 mảnh giấy bạc không bám dính gì, 02 mảnh giấy bạc được cuộn tròn, 01 nắp chai nhựa màu trắng, 01 túi nilon màu xanh;
- - 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K ghi hoàn trả mẫu K còn lại sau giám định;
- - 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu số 1634/KL-KTHS ghi bên trong 01 mảnh giấy bạc và vỏ bao gói mẫu sau giám định;
* Tạm giữ 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu T2 ghi bên trong có 01 điện thoại di động Realme, màu xanh, đã qua sử dụng của Phạm Sỹ P để đảm bảo thi hành án.
* Tạm giữ 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu T ghi bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy Note 9, màu đen, đã qua sử dụng của Trần Hiển H1 để đảm bảo thi hành án.
* Trả lại cho bị cáo Phạm Sỹ P 3.376.000 đồng (ba triệu ba trăm bảy mươi sáu nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1 để quản lý, sử dụng.
* Trả lại cho bị cáo Trần Hiển H1 và chị Phạm Thị Thanh N 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anphal, màu trắng, biển kiểm soát 20H1 - 210.12, có số khung: RLHHC1210DY268706, số máy: HC12E-5268805, xe cũ đã qua sử dụng để quản lý, sử dụng.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/6/2024 và Uỷ nhiệm chi ngày 25/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên).
5. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Phạm Sỹ P, Trần Hiển H1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp vào Ngân sách Nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo và đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Tạ Thị Dung |
Bản án số 111/2024/HSST ngày 19/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 111/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Sỹ P cùng đồng phạm bị truy tố xét xử về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
