Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 111/2024/HS - ST

Ngày: 19/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Nguyễn Thị Thùy

+ Ông Phạm Ngọc Diện

Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Phương – là Thư ký Toà án nhân dân huyện Lâm Hà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa: ông Hồ Văn Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 108/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lê Duy H, tên gọi khác: không, sinh năm 1997, tại Lâm Đồng; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: thôn E, xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Duy Đ và bà Trịnh Thị V; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện L; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Nguyễn Ngọc Q, tên gọi khác: không, sinh năm 1998, tại Lâm Đồng; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: đầu bếp; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc H1 và bà Phạm Thị D; có 01 con sinh năm 2022; tiền án: Bản án số 196/2021/HS-ST ngày 26/10/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/3/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện L; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Lê Duy H đã sử dụng ứng dụng messenger có tên tài khoản “Duy Hoàng” nhắn tin cho Nguyễn Ngọc Q có tên tài khoản là “Quang Nguyễn” để hỏi mua ma túy loại ma túy đá với số tiền 500.000đồng thì được Q đồng ý. Nhưng vì lúc này Q đang ở trên T nên có hẹn H đi lên thành phố Đ, còn Q từ thành phố Đ đi xuống gặp nhau chỗ nào thì giao ma túy chỗ đó. Sau đó, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu honda wave alpha màu đen biển kiểm soát 49D1- 811.37 đi từ nhà hướng lên thành phố Đ. Khi đi đến khu vực gần cây xăng V1 thuộc phường E, T thì HQ gặp nhau. Q đưa cho H 01 túi nilon bên trong chứa ma túy, do quen biết nên H có nói là chuyển tiền sau thì Q đồng ý. Q gửi H thông tin số điện thoại 0973.501.xxx, ví điện tử momo của Q để H chuyển số tiền 500.000đồng mua ma túy. Sau khi mua được ma túy, H tháo khẩu trang mình đang đeo cất giấu ma túy vào khẩu trang rồi đeo lại lên mặt của mình và điều khiển xe đi về nhà.

Khi về đến ngã ba thuộc xã T, T, H dừng xe lại bên đường tháo khẩu trang ra, dùng tay xé rách một lỗ trên khẩu trang rồi nhét túi nilon chứa ma túy vào trong và tiếp tục đeo khẩu trang lên mặt. H điều khiển xe đi đến ngôi nhà hoang tại thôn E, xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng để sử dụng số ma túy này. Khi đi đến khu vực đường đất gần nhà hoang khoảng 100m, H cất giấu khẩu trang bên trong chứa túi nilon có chứa chất ma túy tại lề trái đường đất. H đi lên ngôi nhà hoang để xem có người không thì gặp lực lượng công an. Quá trình làm việc, H đã khai nhận và đưa lực lượng Công an đến vị trí mà mình cất giấu ma túy. Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong tang vật, sau đó đưa H về trụ sở làm việc. Đối với Nguyễn Ngọc Q, khi được cơ quan Công an triệu tập lên làm việc thì Q đã khai nhận toàn bộ hành vi bán ma túy cho Lê Duy H.

Tang vật vụ án thu giữ: 01 khẩu trang có một mặt màu đen và một mặt màu trắng, tại mặt màu trắng có 01 lỗ thủng trong có 01 gói nilon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy được niêm phong; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu trắng đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì bưu điện có chữ ký của Lê Duy H, Nguyễn Xuân B, Lê Công N, Trần Đức T và hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã M, huyện L; 01 (một) xe mô tô hiệu Honda wave alpha màu đen biển kiểm soát 49D1-811.37; 01 nắp nhựa màu xanh bên trên có gắn ống thủy tinh (một đầu phình to có lỗ, một đầu gắn ống nhựa màu trắng cam) và 01 ống hút nhựa gắn trên nắp nhựa được niêm phong trong phong bì bưu điện bên ngoài có chữ ký của Hoàng Văn T1, Trịnh Thị V, Lê Duy H, Ngô Minh Trí D1 và hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã M, huyện L.

Tại bản kết luận giám định số 45/KL-KTHS ngày 09/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: mẫu tỉnh thể đựng trong một gói nilon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2733g, loại methamphetamine;

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số 116/CT-VKSLH ngày 26/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử bị can Lê Duy H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và bị can Nguyễn Ngọc Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà thực hành quyền công tố luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Duy H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và bị cáo Nguyễn Ngọc Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Duy H từ 12 đến 18 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Q từ 24 đến 30 tháng tù.

Về xử lý vật chứng đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật; Về án phí buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Các bị cáo xác định quá trình điều tra các bị cáo không bị ép cung, dùng nhục hình và lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra là đúng với diễn biến sự việc xảy ra. Các bị cáo đồng ý với cáo trạng truy tố và không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo và tình tiết định khung hình phạt:

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận vào ngày 03/01/2024, tại khu vực gần cây xăng V1 thuộc phường E, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, bị cáo Nguyễn Ngọc Q có hành vi bán trái phép chất ma túy có khối lượng 0,2733g (không phẩy hai bảy ba ba gam), loại Methamphetamine với giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) cho bị cáo Lê Duy H. Còn bị cáo Lê Duy H có hành vi mua và cất giấu trái phép chất ma túy khối lượng 0,2733g (không phẩy hai bảy ba ba gam), loại Methamphetamine nhăm mục đích sử dụng cho bản thân.

Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tang vật thu giữ và những tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Lê Duy H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và bị cáo Nguyễn Ngọc Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự theo như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất vụ án nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo đều là những người đã trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, do đó các bị cáo biết rõ việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là những hành vi trái pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, đồng thời còn tác động xấu đến tình hình trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương. Bởi vì, ma túy là loại độc dược, gây ra nhiều tác hại đối với người sử dụng và còn là nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác, đồng thời cũng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác trong xã hội. Chính vì vậy, Nhà nước ta nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy, về hình phạt đối với loại tội phạm này cũng rất nghiêm khắc. Tuy nhiên, để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy, các bị cáo đã không nghĩ đến tác hại của loại độc dược này đối với chính bản thân mình mà mua bán, tàng trữ ma túy thì đã bị phát hiện bắt quả tang. Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: xét thấy ngày 26/10/2021 bị cáo Q bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Sau khi chấp hành án xong chưa được xóa án tích thì bị cáo Q lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo Q phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm do đó áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Q. Đối với bị cáo H chưa có tiền án, tiền sự; sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho cả hai bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo Q có ông nội và ông bà ngoại là người có công với cách mạng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5]. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm này trên địa bàn huyện L, tỉnh Lâm Đồng đang có chiều hướng gia tăng, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo có cơ hội cải tạo, rèn luyện trở thành người công dân tốt, biết tuân thủ pháp luật. Trong đó bị cáo Q phải chịu hình phạt cao nhất trong vụ án, còn bị cáo H phải chịu hình phạt thấp hơn bị cáo Q. Do đó cần chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tại phiên tòa.

[6]. Đối với người đàn ông tên T2, là người bán ma túy cho bị cáo Q, do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Lâm Đồng tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý sau.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính ra, các bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Xét thấy, các bị cáo là người nghiện ma túy không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[8]. Xử lý vật chứng: qua xem xét các vật chứng thu giữ đã được cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L chuyển giao sang chi cục thi hành án dân sự huyện L, Hội đồng xét xử xét thấy:

Đối với hai phong bì được niêm phong số 45/2024 có chữ ký ghi họ tên Võ Như T3, Nguyễn Văn C, Đặng Quốc T4 và hình dấu tròn màu đỏ của phòng K - Công an tỉnh L bao gồm phong bì đựng bao gói vật chứng và mẫu vật gửi giám định, phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định đựng ma túy nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu trắng đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì bưu điện có chữ ký của Lê Duy H, Nguyễn Xuân B, Lê Công N, Trần Đức T và hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã M, huyện L; đây là điện thoại bị cáo sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda wave alpha màu đen biển kiểm soát 49D1-811.37; quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã xử lý vật chứng giao trả chiếc xe nói trên cho bà Trịnh Thị V nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 nắp nhựa màu xanh bên trên có gắn ống thủy tinh (một đầu phình to có lỗ, một đầu gắn ống nhựa màu trắng cam) và 01 ống hút nhựa gắn trên nắp nhựa được niêm phong trong phong bì bưu điện bên ngoài có chữ ký của Hoàng Văn T1, Trịnh Thị V, Lê Duy H, Ngô Minh Trí D1 và hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã M, huyện L. Đây là dụng cụ sử dụng ma túy nên tuyên tịch thu tiêu hủy.

[9]. Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Q phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Lê Duy H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  1. 1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  2. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Ngọc Q 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/3/2024.

  3. 1.2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  4. Xử phạt: bị cáo Lê Duy H 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/01/2024.

  5. 2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  6. Tuyên tịch thu tiêu hủy : hai phong bì được niêm phong số 45/2024 có chữ ký ghi họ tên Võ Như T3, Nguyễn Văn C, Đặng Quốc T4 và hình dấu tròn màu đỏ của phòng K - Công an tỉnh L bao gồm phong bì đựng bao gói vật chứng và mẫu vật gửi giám định, phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định đựng ma túy; 01 nắp nhựa màu xanh bên trên có gắn ống thủy tinh (một đầu phình to có lỗ, một đầu gắn ống nhựa màu trắng cam) và 01 ống hút nhựa gắn trên nắp nhựa được niêm phong trong phong bì bưu điện bên ngoài có chữ ký của Hoàng Văn T1, Trịnh Thị V, Lê Duy H, Ngô Minh Trí D1 và hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã M, huyện L.

    Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu trắng đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì bưu điện có chữ ký của Lê Duy H, Nguyễn Xuân B, Lê Công N, Trần Đức T và hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã M, huyện L.

    (Tất cả có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 01/7/2024 tại chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng).

  7. 3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Lê Duy HNguyễn Ngọc Q mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (19/7/2024), để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKS, CA huyện Lâm Hà;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Chi cục THADS huyện Lâm Hà;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng
  • - Lưu HS - BP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HS - ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về vụ án hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 111/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Duy H cùng đồng phạm tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger