TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 111/2024/HSST
Ngày 18 tháng 7 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Văn Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Thuận
- Ông Trần Ngọc Quân
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Cẩm Duyên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Yến Nhi - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 106/2024/HS-ST ngày 17 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXXST- HS, ngày 26 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thị Thu H, sinh ngày 01/01/1961; tại C, tỉnh Hậu Giang; nơi thường trú: Khu phố D, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở hiện nay: Ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 1/12; con ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị G; chồng: Nguyễn Văn P; con có 05 người, lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất sinh năm 1989; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/10/2023 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ, ngày 28/9/2023, Lê Thị Thu H đang bán nước giải khát tại tổ 1, ấp S, xã D, thành phố P, thì gặp một người đàn ông (chưa rõ nhân thân), qua nói chuyện thì H biết người đàn ông này có bán ma túy nên hỏi mua với số tiền 4.500.000 đồng, loại Methamphetamine (ma túy đá) nhằm mục đích bán lại kiếm lời. Người đàn ông đồng ý và giao cho H 01 túi da màu nâu, bên trong là 69 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu có chứa ma túy. Sau đó, H lấy số ma túy đá vừa mua được cất giấu trong một ví da, để vào bọc nylon màu trắng treo tại quầy bán nước của H để bán lại kiếm lời. Đến khoảng 20 giờ 40 phút, ngày 07/10/2023, Công an thành phố P kiểm tra hành chính nơi ở và buôn bán phát hiện bắt quả tang tạm, giữ 69 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu bên trong chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất nghi là ma túy được đựng trong túi da màu nâu treo trong bọc nylon tại quầy bán nước. Ngày 07/10/2023, Lê Thị Thu H bị tạm giữ, ngày 16/10/2023, Lê Thị Thu H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P khởi tố, tạm giam để điều tra.
Tang vật vụ án thu giữ gồm: 69 (sáu mươi chín) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, có cùng kích thước khoảng 01 cm x 02 cm, bên trong các đoạn ống nhựa có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất, đã được niêm phong; 01 (một) ví da màu nâu có khóa kéo, đã qua sử dụng; 01 (một) bịch nylon màu trắng, đã qua sử dụng;
Tại bản kết luận giám định số: 1040/KL-KTHS, ngày 16/10/2023 của Phòng K – Công an tỉnh K kết luận: Các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất chứa bên trong 69 (sáu mươi chín) đoạn ống nhựa được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 6,5964 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại Cáo trạng số: 110/CT-VKSPQ ngày 14/6/2024, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố bị cáo Lê Thị Thu H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thị Thu H từ 07 năm đến 08 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu vụ số 1040/2023; 01 (một) ví da màu nâu có khóa kéo, đã qua sử dụng; 01 (một) bịch nylon màu trắng, đã qua sử dụng.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Lê Thị Thu H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận vào khoảng 20 giờ 40 phút, ngày 07/10/2023, tại nơi ở của bị cáo tại tổ I, ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Công an thành phố P bắt quả tang bị cáo đang cất giữ 69 đoạn ống nhựa có chứa ma tuý. Tại kết luận giám định vật chứng thu giữ của bị cáo là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng là 6,5964 gam. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Lê Thị Thu H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Ma túy là chất độc gây thiệt hại cho sức khỏe và tính mạng của con người, là nguyên nhân dẫn đến tệ nạn nghiện ngập tràn lan trong giới trẻ hiện nay, làm suy giảm về sức khỏe, đạo đức lối sống, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương, tạo gánh nặng cho gia đình và xã hội và còn là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Vì những tác hại của ma túy nên Nhà nước ta kiên quyết bài trừ ra khỏi đời sống xã hội, pháp luật xử lý rất nghiêm khắc đối với loại tội phạm này. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi, nhưng không nhận thức được tác hại của ma túy, bị cáo vẫn mua, bán mục đích để thu lợi bất chính nên dấn thân vào con đường phạm tội. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, tiếp tay cho tệ nạn ma túy ngày càng phát triển, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết và phải có mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người cao tuổi, nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách niệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người cao tuổi, không có nghề nghiệp ổn định. Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng là 6,5964 gam loại Methamphetamine; 01 (một) ví da màu nâu có khóa kéo, đã qua sử dụng; 01 (một) bịch nylon màu trắng, đã qua sử dụng.
[6] Đối với người đàn ông không rõ nhân thân đã bán ma túy cho bị cáo. Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố P tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi được được miễn án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Thu H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Thu H, 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 07/10/2023.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng là 6,5964 gam loại Methamphetamine; 01 (một) ví da màu nâu có khóa kéo, đã qua sử dụng; 01 (một) bịch nylon màu trắng, đã qua sử dụng (Tang vật được thể hiện tại biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 16/7/2024).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Kiên Giang;
- - VKSTP Phú Quốc;
- - THATP Phú Quốc;
- - Nhà TGTP Phú Quốc;
- - Lưu hồ sơ, văn phòng;
- - Bị cáo.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Văn Bình |
Bản án số 111/2024/HSST ngày 18/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 111/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Thị Thu Hà
