Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHƯỚC LONG

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 111/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17/7/2024

(V/v: Tranh chấp yêu cầu xin ly hôn)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Văn An

Các hội thẩm nhân dân:

1/. Bà Dương Thị Tú Phương

2/. Bà Võ Tuyết Kha

Thư ký phiên tòa:Đặng Thị Bé – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Nhiên, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 169/2024/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp yêu cầu xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 200/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 162/2024/QĐHST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Tạ Thị X, sinh ngày 01/01/1981.

Địa chỉ: Ấp P, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị đơn: Anh Cổ Thanh N, sinh năm 1979.

Địa chỉ: Ấp P, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

(Chị X có đơn xin vắng mặt, anh N vắng mặt lần 2 không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 02/5/2024, bản tự khai và các biên bản lấy lời khai trong quá trình tố tụng, cũng như lời trình bày tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Tạ Thị X trình bày: Vào năm 2000, được sự đồng ý của hai bên gia đình nên có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán ở địa phương cho chị và anh N nên vợ chồng chung sống, hôn nhân của anh chị là hoàn toàn tự nguyện, nhưng đến nay chị và anh N vẫn chưa có đi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Nguyên nhân mâu thuẫn để nay chị yêu cầu xin ly hôn với anh N là do tính tình giữa hai người không hòa hợp, cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng và không còn hạnh phúc như trước. Trong cuộc sống vợ chồng chị và anh N không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Nay xét thấy cuộc sống vợ chồng không thể hàn gắn được với nhau nữa, hiện tại chị không còn tình cảm gì với anh N nên nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Cổ Thanh N.

Về con chung trong thời gian chung sống vợ chồng chị và anh N chung sống với nhau có 01 người con tên Cổ Thị Yến N1, sinh ngày 08/11/2001. Hiện tại con của chị nay đã trưởng thành và có cuộc sống riêng tư nên chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung chị X xác định: Vợ chồng chung sống với nhau có tạo lập một số tài sản chung nhưng không có nợ ai nên nay khi ly hôn giữa chị và anh N tự thỏa thuận với nhau về tài sản chung và nợ chung nên chị không đặt ra yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Đối với bị đơn anh Cổ Thanh N: Mặc dù anh N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập để làm việc và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh N vẫn không đến Tòa án để làm việc theo nội dung giấy triệu tập của Tòa án và cũng không có lý do chính đáng. Do đó, Tòa án sẽ tiến hành giải quyết vắng mặt đối với anh N theo đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm như sau:

  • Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của nguyên đơn chị Tạ Thị X là đúng theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn anh Cổ Thanh N chấp hành chưa nghiêm theo giấy triệu tập của Tòa án.
  • Về nội dung vụ án: Chị X và anh N chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị X và anh N.
  • Về con chung: Khi ly hôn người con chung tên Cổ Thị Yến N1, sinh ngày 08/11/2001 của chị X và anh N đã trưởng thành nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  • Về tài sản chung và nợ chung: Do chị X và anh N không đặt ra yêu cầu, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  • Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Tạ Thị X phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Tạ Thị X có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với anh Cổ Thanh N. Anh N có địa chỉ cư trú tại huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

Chị Tạ Thị X có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị X.

Anh Cổ Thanh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, nhưng anh N vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh N.

[2] Về nội dung vụ án: Chị X và anh N chung sống với nhau vào khoảng năm 2000, hôn nhân trên tinh thần tự nguyện và có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương, nhưng đến nay vẫn chưa đi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Như vậy, việc không đi đăng ký kết hôn giữa chị X và anh N là đã vi phạm khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.

Tại khoản 1 Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...

Do đó, theo quy định của pháp luật thì hôn nhân giữa chị X và anh N không có giá trị pháp lý, không được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nay chị X xin ly hôn với anh N thì Hội đồng xét xử không giải quyết cho chị X và anh N ly hôn với nhau, mà cần tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị X và anh N là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định tại khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Do người con tên Cổ Thị Yến N1, sinh ngày 08/11/2001 của chị X và anh N đã trưởng thành và đã có gia đình riêng tư. Khi ly hôn anh chị không đặt ra yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết về nghĩa vụ nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị X và anh N không đặt ra yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Tạ Thị X phải chịu theo quy định của pháp luật.

[6] Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên;HJohH

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Tạ Thị X đối với anh Cổ Thanh N.
    1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Tạ Thị X và anh Cổ Thanh N là vợ chồng.
    2. Về con chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
    3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
  2. Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Tạ Thị X phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006844 ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án theo Điều 6, quyền và nghĩa vụ theo các Điều 7, 7a, 7b, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
  4. Án xử sơ thẩm công khai vắng mặt các đương sự, báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND huyện Phước Long;
  • - Chi cục THADS huyện Phước Long;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

4

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Danh Văn An

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HNGĐ-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp yêu cầu xin ly hôn

  • Số bản án: 111/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger