TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 111/2024/HS-ST
Ngày: 16 - 7 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Lê Thị Hồng Thanh;
+ Bà Lê Ngọc Lan.
-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trực.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dânthành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:103/2024/TLST-HS ngày20 tháng 5 năm 2024theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024đối với các bị cáo:
- Nguyễn Công T, tên gọi khác: Không;sinh năm 1996; tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp D, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai;nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12;quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam;tôn giáo: không; con ông Nguyễn Công T1, sinh năm 1966 và bà Phan Thị L, sinh năm 1968; bị cáo có vợ tên Huỳnh Thị Thu N, sinh năm 1996, bị cáo có 01 người con, sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo Nguyễn Công T được áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/12/2023 đến nay.Có mặt tại phiên tòa.
- Kiều Quốc Đ, tên gọi khác: Không; sinh năm 1988; tại An Giang; nơi đăng ký thường trú: Ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang;nơi cư trú: Khu phố E, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai;nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12;quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ôngKiều Công Dẫn, sinh năm 1962 và bà Trần Thị Thu V, sinh năm 1966; bị cáo có vợ tên Trần Thị Ngọc Y, sinh năm 1992, bị cáo có01 người con, sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo Kiều Quốc Đ được áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/12/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Thanh T2, tên gọi khác: Không; sinh năm 1992; tại Bình Định;nơi đăng ký thường trú: Tổ G, khu V, phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định;nơi cư trú: C P, khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai;nghề nghiệp: Nhân viên bán hàng; trình độ văn hóa: 12/12;quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ôngNguyễn Thanh P, sinh năm 1968 (đã chết)và bà Mai Thị Kim H, sinh năm 1970; bị cáo có vợ tên Quách Thị Thùy L1, sinh năm 1987, bị cáochưa có con; Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo Nguyễn Thanh T2 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/12/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Trần Mạnh T3, tên gọi khác: Không; sinh năm 1993; tại Hà Tĩnh; nơi cư trú: Tổ A, ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai;nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12;quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ôngTrần Quốc Luân, sinh năm 1956 và bà Bùi Thị Đ1, sinh năm 1957; Anh, chị, em ruột: Có 07 người, lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất sinh năm 1996, bị cáo là con thứ 05 trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo Trần Mạnh T3 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/12/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
- Bà Phan Thị Đ2, sinh ngày 1975. Địa chỉ: Số B đường N, khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
- Bà Phan Thị Thoa E, sinh ngày 1984. Địa chỉ: Số B đường N, khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Duy N1, sinh năm 1996. Địa chỉ: Số A đường N, khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Công T, Kiều Quốc Đ, Nguyễn Thanh T2 và Trần Mạnh T3 là bạn bè với nhau. Vào khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 07/12/2023, Nguyễn Công T, Kiều Quốc Đ, Nguyễn Thanh T2 và Trần Mạnh T3 rủ nhau đến quán ăn “Thiên Phúc”, tại số B đường N, khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai để ăn trưa. Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, T, Đ, T2 và T3 rủ nhau chơi đánh bài “cào tố” thắng thua bằng tiền trong chòi lá của quán ăn “Thiên Phúc”. T đi ra ngoài quán tạp hóa mua 01 bộ bài tây 52 lá mang vào để cả nhóm cùng chơi.
Hình thức chơi bài “cào tố” như sau:Sử dụng bộ bài tây 52 lá, mỗi người chơi đặt “tiền bàn” lên chiếu bạc số tiền 50.000 đồng mỗi ván, 04 người đặt 200.000 đồng, sau đó mỗi người được chia 03 lá bài, ai chia bài hoặc thắng ở ván trước thì được “tố” (bỏ thêm số tiền muốn cược vào tiền bàn), sau đó lần lượt người chơi tham gia “tố” theo chiều chia bài, số tiền “tố” các bị cáo thỏa thuận từ 50.000 đồng đến 300.000 đồng mỗi ván, nếu ai đồng ý theo người “tố” trước đó thì để số tiền bằng với số tiền người trước đó đã “tố” vào trong chung trong tiền bàn và có thể tiếp tục “tố” lên số tiền cao hơn, ai không theo thì úp bài xem như thua và mất số tiền bàn 50.000 đồng “đậu” ban đầu. Sau khi tất cả người chơi “tố” xong thì tiến hành mở bài để xét điểm, ai có điểm cao hơn sẽ thắng hết số tiền bàn và tiền tố của ván đó để trên chiếu bạc. Căn cứ vào tổng số nút (điểm) của ba lá bài để tính thắng thua, ai có số điểm cao hơn sẽ thắng, cách tính như sau: Số điểm là số nút tương ứng trên lá bài từ 02 đến 09, các lá bài 10, J, Q, K được tính 0 điểm, lá Át (xì) được tính 01 điểm; ngoài ra còn có bộ “Ba Tây” (J, Q, K nhưng không liên tiếp nhau và không trùng cả 03 con giống nhau), bộ “liêng” (các con bài có số thứ tự liên tiếp nhau) và bộ “sam” (03 con trùng nhau) trong đó, “Ba Tây” lớn hơn bài tính điểm, “liêng” lớn hơn “ba tây” và “sam” lớn nhất. Nếu có số điểm bằng nhau thì tính theo nước lần lượt là C, R, C1, В.
Khoảng 15 giờ 20 phút, cùng ngày, khi Nguyễn Công T, Kiều Quốc Đ, Nguyễn Thanh T2 và Trần Mạnh T3 đang đánh bài thì bị Công an thành phố L vào bắt quả tang. Công an thu giữ trên chiếu bạc số tiền 6.950.000 đồng, thu giữ trong người các bị cáo tổng số tiền 10.730.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định được:
- Bị cáo Nguyễn Công T mang theo 5.500.000 đồng. Bị cáo khai chỉ dùng 4.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình chơi thắng được 2.200.000 đồng. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đủ cơ sở để xác định số tiền 5.500.000 đồng bị cáo dùng vào việc đánh bạc. Tổng số tiền bị cáo T dùng đánh bạc là 7.700.000 đồng.
- Bị cáo Kiều Quốc Đ mang theo 5.930.000 đồng. Bị cáo khai chỉ dùng 2.900.000 đồng để đánh bạc, quá trình chơi thua 600.000 đồng. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đủ cơ sở để xác định toàn bộ số tiền 5.930.000 đồng bị cáo dùng vào việc đánh bạc.
- Bị cáo Nguyễn Thanh T2 mang theo 3.400.000 đồng. Bị cáo khai chỉ dùng 1.400.000 để đánh bạc, quá trình chơi thắng được 400.000 đồng. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đủ cơ sở để xác định toàn bộ số tiền 3.400.000 đồng bị cáo dùng vào việc đánh bạc. Tổng số tiền bị cáo T2 dùng đánh bạc là 3.800.000 đồng.
- Bị cáo Trần Mạnh T3 mang theo 2.800.000 đồng dùng để đánh bạc, quá trình chơi thua 2.200.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền mà các bị cáo Nguyễn Công T, Kiều Quốc Đ, Nguyễn Thanh T2 và Trần Mạnh T3 sử dụng để đánh bạc là 17.680.000 đồng (gồm 6.950.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc và 10.730.000 đồng thu giữ trên người các bị cáo).
Trong quá trình điều tra, các bị cáo: Nguyễn Công T, Kiều Quốc Đ, Nguyễn Thanh T2 và Trần Mạnh T3 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
* Vật chứng vụ án và xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã thu giữ:
- Tiền trên chiếu bạc: 6.950.000 đồng (sáu triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng); 01 (một) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng;
- Thu giữ trên ngườiNguyễn C số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động hiệuIphone 13 Promax, màu đen cùng 01 xe ô tô hiệu Ford Everest, biển số: 60K-257.52.
- Thu giữ trên người Kiều Quốc Đ số tiền 5.030.000 đồng (năm triệu không trăm ba mươi nghìn đồng) và 01 điện thoại di động hiệu Samsung S20 Ultra, màu đen, cùng 01 xe ô tô hiệu Honda City, biển số: 67A-165.73.
- Thu giữ trên người Nguyễn Thanh T2 số tiền 3.600.000 đồng (ba triệu sáu trăm nghìn đồng), 01 điện thoại di động hiệu Iphone XSmax, màu đen cùng 01 xe ô tô hiệu Ford Ranger, biển số: 77C – 211.56.
- Thu giữ trên người Trần Mạnh T3 số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu đen, cùng 01 xe ô tô hiệu Ford Ranger, biển số: 60C – 660.01.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại các vật chứng không phải là phương tiện phạm tội cho các bị cáo Nguyễn Công Trung 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu đen, cùng 01 xe ô tô hiệu Ford Everest, biển số: 60K-257.52;Kiều Quốc Đạt 01 điện thoại di động hiệu Samsung S20 Ultra, màu đen, cùng 01 xe ô tô hiệu Honda City, biển số: 67A-165.73; Nguyễn Thanh T2 01 điện thoại di động hiệu Iphone XSmax, màu đen cùng 01 xe ô tô hiệu Ford Ranger, biển số: 77C – 211.56 và Trần Mạnh T3 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu đen, cùng 01 xe ô tô hiệu Ford Ranger, biển số: 60C – 660.01.
Riêng số tiền 17.680.000 đồng và 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, đây là tài sản, phương tiện phạm tội nên tiếp tục tạm giữ để phục vụ cho công tác xét xử.
Tại bản cáo trạng số:87/CT-VKS-LK ngày 08/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Công T, Kiều Quốc Đ, Nguyễn Thanh T2 và Trần Mạnh T4 vào tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Công T, Kiều Quốc Đ, Nguyễn Thanh T2 và Trần Mạnh T5 tội danh, khung hình phạt,đồng thờiđề nghị:
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Công T từ 08 tháng đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách theo quy định pháp luật.
Đề nghị xử phạt các bị cáo Kiều Quốc Đ, Nguyễn Thanh T2 và Trần Mạnh T6 bị cáo từ 06 tháng đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách theo quy định pháp luật.
Đề nghị phạt bổ sung các bị cáo Nguyễn Công T, Kiều Quốc Đ, Nguyễn Thanh T2 và Trần Mạnh T3 mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 17.680.000 đồng.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Công T, Kiều Quốc Đ, Nguyễn Thanh T2 và Trần Mạnh T7 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã mô tả, bị cáo không có ý kiến gì.
* Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo nói sau cùng: các bị cáo thấy được hành vi của mình là sai, kính xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Vào khoảng 15 giờ 20 phút, ngày 07/12/2023, tại quán ăn “Thiên Phúc”, địa chỉ: số B đường N, khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, của bà Phan Thị Đ2, Công an thành phố L đã phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Công T, Kiều Quốc Đ, Nguyễn Thanh T2 và Trần Mạnh T3 đang thực hiện hành vi đánh bạc trái phép, bằng hình thức đánh bài “cào tố” thắng, thua bằng tiền. Tổng số tiền Nguyễn Công T, Kiều Quốc Đ, Nguyễn Thanh T2 và Trần Mạnh T3 sử dụng đánh bạc là17.680.000 đồng (mười bảy triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng).
Do đó, hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Đánhbạc theo quy định tại quy định tại khoản 1 Điều 321Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).Nên Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo Nguyễn Công T, Kiều Quốc Đ, Nguyễn Thanh T2 và Trần Mạnh T8 trên là có cơ sở, đúng pháp luật.
[3]. Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vừa xâm phạm đến trật tự công cộng vừa làm mất trật tự trị an tại địa phương và gây dư luận xấu trong xã hội.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Trong đó, các bị cáo đều là bạn bè quen biết nhau, hình thức tự phát chứ không có người đứng ra tổ chức, thu tiền xâu. Các bị cáo đều trực tiếp thực hiện hành vi đánh bạc, làm cái xoay vòng để chơi với nhau. Bị cáo T đã sử dụng số tiền 7.700.000 đồng nhiều nhất trong số các bị cáo để đánh bạc, chính bị cáo là người đi mua bài về để mọi người chơi nên bị cáo phải chịu mức hình phạt nặng hơn các bị cáo khác.
[4] Về tình tiết định khung hình phạt:
Các bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Cácbị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ hành vi cùng nhân thân người phạm tội. Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt chính đối với các bị cáo là phạt tù nhưng cho hưởng án treo là đủ nghiêm và cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Đối với bà Phan Thị Đ2 là chủ cơ sở kinh doanh của quán ăn “Thiên Phúc” bán cơm trưa cho các bị cáo và bỏ mặc cho các bị cáo chơi đánh bạc tại quán của mình nhưngkhông tham gia chơi, không đứng ra tổ chức và không thu lợi bất chính nên không cấu thành tội phạm. Do vậy,Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
[6]. Về xử lý vật chứng vụ án: Đối với số tiền 17.680.000 đồng cần tịch thu sung quỹ nhà nước; đối với 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
[7].Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sátphù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 321Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
1. Tuyên bốcác bị cáo Nguyễn Công T, Kiều Quốc Đ, Nguyễn Thanh T2 và Trần Mạnh T4 tội: “Đánh bạc”;
Áp dụng khoản 1Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Nguyễn Công T 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởngán treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm 08 (T9) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt các bị cáo Kiều Quốc Đ, Nguyễn Thanh T2 và Trần Mạnh T6 bị cáo 08 (T9) tháng tù nhưng cho hưởngán treo. Thời gian thử thách là 01(Một) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Công T cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Kiều Quốc Đ cho Ủy ban nhân dân phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Thanh T2 cho Ủy ban nhân dân phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Trần Mạnh T10 Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật tố tụng hình sự.
2. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Phạt bổ sung mỗi bị cáo Nguyễn Công T, Kiều Quốc Đ, Nguyễn Thanh T2 và Trần Mạnh T3 số tiền là 10.000.000 (Mười triệu) đồng.
3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 17.680.000 đồng; tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng. Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 22/5/2024của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
4. Về án phí: Nghị quyết 326/2016/UBTTQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Nguyễn Công T, Kiều Quốc Đ, Nguyễn Thanh T2 và Trần Mạnh T3 mỗi người phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáođược quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thu Trang |
Bản án số 111/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự - đánh bạc
- Số bản án: 111/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
