|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 111/2024/HS-ST
Ngày: 14 - 8 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Bình An.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Xuân Đào.
Bà Trương Thị Kim Tiến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huỳnh Như - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Khang - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 107/2024/TLST- HS ngày 23 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Phạm Thế B, sinh ngày 30/3/2001; Nơi sinh: tỉnh Long An; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Số H, khu vực 3, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Quốc S, sinh năm 1970 và bà Phạm Thị Thu S1, sinh năm 1972; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, Tiền sự: Không.
Nhân thân:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2020/HS-ST ngày 12/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, xử phạt Lê Phạm Thế B 06 tháng tù, về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Lê Phạm Thế B chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 19/10/2020, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/11/2020.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 347/2020/HS-ST ngày 09/12/2020 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt Lê Phạm Thế B 01 năm tù, về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Lê Phạm Thế B chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 20/8/2021, chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/10/2021.
Bị cáo Lê Phạm Thế B đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 07/4/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Long An, cho đến nay, bị cáo có mặt.
- Bị hại: Ông Đặng Minh T, sinh năm 1987, (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Bùi Thị Thùy L, sinh năm 1991, (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện D, tỉnh tây Ninh.
Ông Nguyễn Thành T1, sinh năm 1983, (vắng mặt).
Địa chỉ: Số A, khu V, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Lê Hoàng Nhật T2, sinh năm 2002, (vắng mặt). Hà Minh H, sinh năm 2004, (vắng mặt). Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1975, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 07/04/2024, Lê Phạm Thế B và người tên T3 (chưa xác định nhân thân lai lịch) đang uống cà phê tại quán cà phê không biển hiệu cặp Tỉnh lộ 822, khu vực A, thuộc xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, T3 rủ B tìm tài sản là xe mô tô của người khác để sơ hở, không có người trông coi để chiếm đoạt bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, B đồng ý. Sau đó, T3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, loại Satria, biển số 62P1-208.50 chở B chạy trên các tuyến đường tìm xe mô tô không người trông coi để chiếm đoạt.
Trên đường đi, T3 lấy trong túi xách có quai đeo của T3 đưa cho B một bình xịt hơi cai quấn băng keo màu đen bên ngoài, cùng với 01 cái ống điếu vặn ốc số 8 và 02 thanh đoản bằng kim loại sắt có một đầu dẹp và một đầu ngũ giác, dùng làm công cụ cạy khóa xe mô tô. B cất các đồ vật mà T3 đưa vào túi xách có quai đeo của B (trong túi xách của B có sẵn 01 bình xịt hơi cai và 01 cái ná tự chế).
Đến khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày 07/4/2024, T3 chở B đến đoạn đường Tỉnh lộ 825, xã Đ (theo hướng từ ngã 3 Đ đi Thành phố Hồ Chí Minh) thì B nhìn thấy có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future FI, biển số: 72G1-858.31, màu đen, của Đặng Minh T đang dựng trước Cửa hàng quần áo biển hiệu Shop MN, địa chỉ: ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An cặp lề đường bên trái (theo hướng lưu thông của B), không có người trông coi nên B kêu T3 quay đầu xe lại để lấy trộm xe mô tô này, T3 đồng ý. Sau đó, T3 điều khiển xe quay đầu xe lại và chạy ngang qua xe mô tô biển số 72G1-858.31 thì T3 điều khiển xe quay đầu xe chạy ngược chiều đến vị trí cách chỗ đỗ xe mô tô biển số 72G1-858.31 khoảng 04m cảnh giới để cho B đi vào lấy trộm xe. B xuống xe đi bộ lại vị trí xe Future FI sử dụng ống điếu vặn ốc số 8 và đoản ngũ giác cạy ổ khóa công tắc điện của xe mô tô biển số 72G1-858.31.
Sau khi B cạy khóa xong, đèn báo hiệu xe đã mở khóa sáng lên, B chưa kịp điều khiển xe tẩu thoát thì Đặng Minh T phát hiện, B bỏ lại xe mô tô biển số 72G1-858.31 còn dính đoản ngũ giác và ống điếu tại ổ khóa, chạy ra xe để T3 chở tẩu thoát nhưng T truy đuổi theo đạp ngã xe mô tô do T3 điều khiển. Lúc này, B lấy bình xịt hơi cay của B để trong túi xách xịt vào người của T để cho T3 dựng xe lên, sau đó B lên xe mô tô của T3 tẩu thoát về hướng thị trấn Đ. T3 điều khiển xe mô tô chở B chạy về hướng thị trấn Đ khoảng 70m thì B bị người dân truy đuổi theo bắt giữ, riêng T3 bỏ xe biển số 62P1-208.50 chạy bộ tẩu thoát.
Vật chứng tạm giữ:
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu honda, số loại Future FI, màu đen, biển số 72G1- 858.31, số máy: JC90E0318259, số khung: RLHJC7651NY328236.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, loại Satria, gắn biển số 62P1-208.50, số máy: không, số khung: MH8DL11AZKJ184944;
- - 01 bình xịt hơi cay không nhãn hiệu chiều dài 23cm;
- - 01 cây ná thun có cán bằng gỗ;
- - 01 thanh đoản bằng kim loại (hình ngũ giác) có chiều dài 7,5cm, có 01 đầu dẹp, nhọn phần đầu;
- - 01 thanh đoản bằng kim loại (hình ngũ giác) có chiều dài 8cm, có 01 đầu dẹp, nhọn phần đầu;
- - 01 ống điếu vặn ốc bằng kim loại hình chữ L, có chiều dài 12cm (chiều rộng 2,5cm, hai đầu ống rộng hình ngũ giác);
- - 01 túi vải màu đen, đeo chéo, hiệu PoLo.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 34/KL-HĐĐGTS ngày 08/04/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận trị giá xe mô tô biển số 72G1-858.31 bị chiếm đoạt là 24.000.000 đồng.
Tại bản Kết luận giám định số 379/KL-KTHS, ngày 03/06/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận:
- “1. Số khung của xe mô tô cần giám định nêu trên không phát hiện đục sửa, không phát hiện cắt hàn ghép (số khung nguyên thủy là: MH8DL11AZKJ184944)
- 2. Số máy của chiếc xe mô tô cần giám định nêu trên phát hiện bị đực sửa, không phát hiện cắt hàn ghép (số máy nguyên thủy là: CGA1-ID184953)".
Tại bản Cáo trạng số: 108/CT-VKSĐH ngày 19 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Lê Phạm Thế B về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm đ khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Phạm Thế B hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại ông Đặng Minh T trình bày tại Cơ quan điều tra: Vào ngày 07/4/2024 ông có điều khiển xe mô tô biển số 72G1-858.31 đến trước Cửa hàng quần áo biển hiệu Shop MN, địa chỉ: ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An ông dựng cặp lề đường thì bị mất trộm, hiện nay Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Đ đã trao trả xe cho ông xong. Nay ông không yêu bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo gây ra; đồng thời căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 173; điểm s, h khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Lê Phạm Thế B phạm tội “Trộm cắp tài sản” xử phạt bị cáo Lê Phạm Thế B mức hình phạt từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Về Hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Xử lý tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu honda, số loại Future FI, màu đen, biển số 72G1- 858.31, số máy: JC90E0318259, số khung: RLHJC7651NY328236 là tài sản hợp pháp của Đặng Minh T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho ông T theo Quyết định xử lý vật chứng số 163 ngày 20/04/2024 xong, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 biển số 62P1-208.50; 01 bình xịt hơi cay không nhãn hiệu chiều dài 23cm; 01 cây ná thun có cán bằng gỗ; 01 thanh đoản bằng kim loại (hình ngũ giác) có chiều dài 7,5cm, có 01 đầu dẹp, nhọn phần đầu; 01 thanh đoản bằng kim loại (hình ngũ giác) có chiều dài 8cm, có 01 đầu dẹp, nhọn phần đầu; 01 ống điếu vặn ốc bằng kim loại hình chữ L, có chiều dài 12cm (chiều rộng 2,5cm, hai đầu ống rộng hình ngũ giác); 01 túi vải màu đen, đeo chéo, hiệu PoLo.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Đặng Minh T không yêu cầu về trách nhiệm dân sự, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, loại Satria, số máy: không, số khung: MH8DL11AZKJ184944. Kết quả điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Bùi Thị Thùy L, sinh năm: 1991, nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Tây Ninh bị mất trộm vào năm 2020. Cơ quan điều tra đã bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, tỉnh Tây Ninh xác minh thụ lý theo thẩm quyền, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người tên T3 do không xác định nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 1667 ngày 04/7/2024 để tiếp tục điều tra xử lý sau.
Đối với tình tiết Đặng Minh T bị B và T3 xịt hơi cay, do T không bị thương tích và có đơn từ chối giám định và không yêu cầu xử lý nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Phạm Thế B trước Tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường vào lúc 18 giờ 20 phút ngày 07 tháng 4 năm 2024, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, phù hợp với lời khai của bị hại cùng với bản kết luận về định giá tài sản số 34/KL.ĐGTS ngày 08/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Kết luận giám định số 379/KL-KTHS, ngày 03/06/2024 của Phòng K Công an tỉnh L và tang vật chứng thu giữ đã được thẩm tra làm rõ công khai tại phiên Tòa, phù hợp với nội dung bản cáo trạng.
Thấy rằng: Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 07/4/2024, tại Cửa hàng Q thuộc ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, bị cáo Lê Phạm Thế B và người tên T3 (chưa xác định nhân thân lai lịch) có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future FI, biển số 72G1-858.31, màu đen, số khung: RLHJC7651NY328236, số máy: JC90E0318259 của Đặng Minh T trị giá 24.000.000 đồng thì bị ông T phát hiện truy đuổi, lúc này bị cáo B sử dụng bình xịt hơi cay xịt vào người ông T, để bị cáo B và T3 điều khiển xe mô tô chạy thoát được khoảng 70m thì bị bắt giữ.
Từ đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận, bị cáo Lê Phạm Thế B phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Lê Phạm Thế B với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo Lê Phạm Thế B gây ra là nguy hiểm. Hành vi này không những đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của ông Đặng Minh T mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của bị cáo là lén lút trộm cắp tài sản của bị hại và thấy trước hậu quả của hành vi đó sẽ gây ra nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện với lỗi cố ý trực. Hành vi trái pháp luật của bị cáo cần xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4]. Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Phạm Thế B không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, đồng thời trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo B thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên khi áp dụng hình phạt cho bị cáo có xem xét giảm nhẹ một phần.
[5]. Về xử lý tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu honda, số loại Future FI, màu đen, biển số 72G1- 858.31, số máy: JC90E0318259, số khung: RLHJC7651NY328236 là tài sản hợp pháp của Đặng Minh T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho ông T theo Quyết định xử lý vật chứng số 163 ngày 20/04/2024 xong, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 biển số: 62P1-208.50; 01 bình xịt hơi cay không nhãn hiệu chiều dài 23cm; 01 cây ná thun có cán bằng gỗ; 01 thanh đoản bằng kim loại (hình ngũ giác) có chiều dài 7,5cm, có 01 đầu dẹp, nhọn phần đầu; 01 thanh đoản bằng kim loại (hình ngũ giác) có chiều dài 8cm, có 01 đầu dẹp, nhọn phần đầu; 01 ống điếu vặn ốc bằng kim loại hình chữ L, có chiều dài 12cm (chiều rộng 2,5cm, hai đầu ống rộng hình ngũ giác); 01 túi vải màu đen, đeo chéo, hiệu PoLo. Đây là dụng cụ dùng vào việc phạm tội, nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, loại Satria, số máy: không, số khung: MH8DL11AZKJ184944. Kết quả điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Bùi Thị Thùy L, sinh năm: 1991, nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Tây Ninh bị mất trộm vào năm 2020. Cơ quan điều tra đã bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, tỉnh Tây Ninh xác minh thụ lý theo thẩm quyền, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người tên T3 do không xác định nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 1667 ngày 04/7/2024 để tiếp tục điều tra xử lý sau là phù hợp.
Đối với tình tiết Đặng Minh T bị B và T3 xịt hơi cay, do T không bị thương tích và có đơn từ chối giám định và không yêu cầu xử lý, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6].Về trách nhiệm dân sự: Ông Đặng Minh T không yêu cầu về trách nhiệm dân sự, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
[7]. Hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[8]. Về án phí: Bị cáo B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự sung vào Ngân sách Nhà nước, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Phạm Thế B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 173, điểm s, h khoản 1 Điều 51, Điều 38 Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Phạm Thế B 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07 tháng 4 năm 2024.
Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Phạm Thế B 45 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14 tháng 8 năm 2024) để đảm bảo cho việc thi hành án.
Về xử lý tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 biển số: 62P1-208.50; 01 bình xịt hơi cay không nhãn hiệu chiều dài 23cm; 01 cây ná thun có cán bằng gỗ; 01 thanh đoản bằng kim loại (hình ngũ giác) có chiều dài 7,5cm, có 01 đầu dẹp, nhọn phần đầu; 01 thanh đoản bằng kim loại (hình ngũ giác) có chiều dài 8cm, có 01 đầu dẹp, nhọn phần đầu; 01 ống điếu vặn ốc bằng kim loại hình chữ L, có chiều dài 12cm (chiều rộng 2,5cm, hai đầu ống rộng hình ngũ giác); 01 túi vải màu đen, đeo chéo, hiệu PoLo.
(Tang vật trên hiện do Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa quản lý theo biên bản giao nhận số 116 ngày 22 tháng 7 năm 2024).
Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 333 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc bị cáo Lê Phạm Thế B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách nhà nước.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt được quyền kháng cáo. Riêng bị hại và người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án xin xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đỗ Bình An |
Bản án số 111/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 111/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LÊ PHẠM THÊ B "TRỘM CẮP TÀI SẢN"
