Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2024/HS-ST

Ngày: 13-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vọng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Quang;

Ông Huỳnh Tiến Quang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa:

Ông Huỳnh Hải Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 106/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Viết P, sinh năm 1991, tại tỉnh Đắk Lắk; nơi đăng ký thường trú: Thôn A, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Viết T (đã chết) và bà Nguyễn Thị Hồng M; bị cáo chưa có vợ và con.

Tiền án: Ngày 15/12/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 404/2021/HS-ST (chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 13/12/2022).

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Ngày 04/3/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2016/HSST.
  • - Ngày 02/5/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 129/2018/HSST.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 16/01/2024, sau đó chuyển sang tạm giam cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Chị Trần Thị Kim T1, sinh năm 1993; cư trú tại: Số B, đường B, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Trịnh Quốc T2, sinh năm 1971.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Viết P là đối tượng sống lang thang, không có nghề nghiệp, là người có nhân thân xấu và có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản. Do cần tiền tiêu xài nên vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 16/01/2024, khi đang ngồi uống nước ở thành phố D, tỉnh Bình Dương, P cất giấu trong người 01 cây đoản bằng kim loại rồi kêu người chạy xe ôm chở P đi từ thành phố D đến thành phố T để tìm tài sản sơ hở của người dân nhằm lấy trộm rồi đem đi bán lấy tiền tiêu xài. Khi đến khu vực ngã ba đường N và đường Đ, đoạn qua Khu phố G, phường H, thành phố T, P kêu người chạy xe ôm dừng xe lại để P xuống xe và đi bộ trên đường N thì P nhìn thấy cửa cổng của Khu nhà trọ, địa chỉ tại Số C, đường N, Khu phố G, phường H, thành phố T đang trong tình trạng không khóa nên P đi vào bên trong, đến phòng trọ cuối dãy Khu nhà trọ của chị Trần Thị Kim T1, sinh năm 1993, thường trú tại Số B, đường B, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương, đang thuê ở. Lúc này, P quan sát xung quanh thấy không có ai nên P lén lút dùng cây đoản đã chuẩn bị từ trước để mở khóa cửa phòng trọ này rồi đột nhập vào bên trong để lục tìm đồ đạc. Khi tìm trong tủ quần áo, P lấy được 01 hộp bằng nhựa, bên trong có 01 chiếc nhẫn bằng hợp kim, màu vàng, gắn hạt đá màu trắng rồi P tiếp tục lục lọi tìm tài sản khác để lấy trộm. Đến khoảng 08 giờ 55 phút cùng ngày 16/01/2024, chị T1 quay về thì phát hiện P đang ở bên trong phòng trọ của chị thuê và đang lục tìm tài sản để lấy trộm nên chị Tiên tri h thì P bỏ chạy ra khỏi phòng. Lúc này, có ông Trịnh Quốc T2, sinh năm 1971, là người dân cư trú gần Khu nhà trọ nêu trên, nghe tiếng chị Tiên tri h và nhìn thấy P đang bỏ chạy nên ông T2 đuổi theo, bắt giữ được P rồi cùng chị T1 đưa P đến trụ sở Công an phường H để làm việc. Tại đây, P thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên; đồng thời, P khai quá trình bị ông T2 truy đuổi P đã ném cây đoản dùng để mở khóa cửa phòng của chị T1 và không nhớ rõ đã ném ở đâu nên không thể giao nộp. Công an phường H tiến hành lập Biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang đối với P về hành vi Trộm cắp tài sản; đồng thời, thu giữ số vật chứng, gồm: 01 chiếc nhẫn bằng hợp kim, màu vàng có gắn hạt đá và 01 chiếc hộp nhựa đựng nhẫn. Cùng ngày 16/01/2024, Công an phường H chuyển hồ sơ vụ việc cùng đối tượng P và số vật chứng đã thu giữ được cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để xử lý theo thẩm quyền.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 71 ngày 19/3/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 01 chiếc nhẫn bằng hợp kim vàng 14k có trọng lượng 3 phân 2 bị lấy trộm vào ngày 16/01/2024 có trị giá 1.184.000 (một triệu, một trăm tám mươi bốn nghìn) đồng; hạt đá gắn trên nhẫn hợp kim vàng có trọng lượng 4 ly được tính vào tiền công làm nhẫn có trị giá 300.000 (ba trăm nghìn) đồng và 01 chiếc hộp nhựa đựng nhẫn bị lấy trộm vào ngày 16/01/2024 có trị giá 5.000 (năm nghìn) đồng. Như vậy, tổng trị giá tài sản được định giá là 1.489.000 (một triệu, bốn trăm tám mươi chín nghìn) đồng.

Đối với 01 chiếc nhẫn bằng hợp kim vàng 14k có trọng lượng 3 phân 2, hạt đá gắn trên nhẫn hợp kim vàng có trọng lượng 4 ly và 01 chiếc hộp nhựa đựng nhẫn: Quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc sở hữu của bị hại Trần Thị Kim T1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu M1 đã giao trả lại cho chị T1 theo Quyết định xử lý vật chứng số 1073 ngày 12/4/2023. Cùng ngày 12/4/2024, chị T1 đã nhận đủ số tài sản trên và hiện không có yêu cầu gì khác.

Cáo trạng số 110/CT-VKSTDM ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo Nguyễn Văn Viết P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa,

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Viết P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Viết P mức hình phạt từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại và bị hại không có yêu cầu gì khác nên không đề cập xử lý.
  • - Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Không.

Tại phần tranh luận, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt và mức hình phạt đã đề nghị. Trong nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên toà, vắng mặt bị hại chị Trần Thị Kim T1 và người làm chứng ông Trịnh Quốc T2, nhưng chị T1 và ông T2 đã có lời khai trình bày ý kiến của mình nên việc vắng mặt của chị T1 và ông T2 không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt chị T1 và ông T2.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai của bị hại, cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 08 giờ 55 phút ngày 16/01/2024, tại phòng trọ của chị Trần Thị Kim T1 đang thuê ở, thuộc Khu nhà trọ, địa chỉ tại Số C, đường N, Khu phố G, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Văn Viết P là người có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt 01 chiếc hộp bằng nhựa, bên trong đựng 01 chiếc nhẫn bằng hợp kim vàng 14k có trọng

lượng 3 phân 2, gắn hạt đá có trọng lượng 4 ly, có tổng trị giá là 1.489.000 (một triệu, bốn trăm tám mươi chín nghìn) đồng của bị hại Trần Thị Kim T1 thì bị phát hiện và bắt quả tang. Do đó, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo Nguyễn Văn Viết P theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam, muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài mà bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, bản thân bị cáo có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xoá án tích nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, cho thấy bị cáo là người coi thường pháp luật. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo, đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện; cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho bị hại nên đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[7] Căn cứ nhân thân, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

[9] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Không.

[10] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • - Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Viết P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Viết P 09 (chín) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/01/2024.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Không.
  4. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Không.
  5. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Viết P phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại Tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Công an tỉnh Bình Dương (PV06);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thủ Dầu Một;
  • - Công an thành phố Thủ Dầu Một;
  • - CCTHADS thành phố Thủ Dầu Một;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, Tòa.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Vọng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 111/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Viết P phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger