Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 111/2024/HS-PT

Ngày: 10-9-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Diệp.

Các Thẩm phán:

  • + Ông Phạm Văn Tâm.
  • + Ông Trần Thanh Tòng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 99/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Đức M do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số: 59/2024/HS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Đức M (tên gọi khác: Không), sinh năm 1979; tại Long An; giới tính: Nam. Nơi cư trú: Số F Đường N, khu phố D, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Công chức; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Hoài D và bà Nguyễn Thị B; Vợ: Trần Bảo H; con: có 02 người lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại; có mặt.

- Bị cáo không kháng cáo

1. Huỳnh Thị Trà G (tên gọi khác: Không), sinh năm 1985; tại Tây Ninh; giới tính: Nữ. Nơi cư trú: Số I Đường số A Đường B, khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Huỳnh Tấn L và bà Trần Thị Q; Chồng: Nguyễn Ngọc H1; con: có 02 người lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại; Tòa án không triệu tập

2. Lữ Thị Thanh P (tên gọi khác: Không), sinh năm 1977; tại Tây Ninh; giới tính: Nữ; Nơi cư trú: Số D Đường P, khu phố F, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lữ Thanh P1Lê Thị H2; Chồng: Trần Anh T (chết); con: có 01 người sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại; Tòa án không triệu tập.

Ngoài ra, trong vụ án này còn có nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, kháng nghị tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong năm 2018, Lãnh đạo Sở C1 giao nhiệm vụ cho Phòng Quản lý thương mại chủ trì thực hiện Kế hoạch số 1636/KH-SCT ngày 07/8/2018 về kiểm tra tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm năm 2018 và Kế hoạch số 2332/KH-SCT ngày 05/11/2018 về việc tổ chức chương trình bồi dưỡng kiến thức về an toàn thực phẩm năm 2018 cho doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm vừa và nhỏ.

Phòng Quản lý thương mại Sở C1 có 01 Trưởng phòng, 02 Phó Trưởng phòng và 03 Chuyên viên. Theo phân công của Giám đốc Sở C1 và Trưởng phòng Quản lý thương mại giao nhiệm vụ cho Nguyễn Đức M là Phó Trưởng phòng phụ trách lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm là người trực tiếp quản lý, chỉ đạo thực hiện 02 Kế hoạch nêu trên và chuyên viên Huỳnh Thị Trà G là người tham mưu, giúp việc cho M. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, G là người soạn thảo Chương trình, Kế hoạch và dự toán kinh phí, M là người kiểm tra, ký tắt vào các văn bản do G soạn thảo trước khi trình Lãnh đạo Sở C1 ký ban hành thực hiện.

Sau khi thực hiện xong 02 Kế hoạch và chuẩn bị hồ sơ quyết toán kinh phí được cấp với Kho bạc Nhà nước, Huỳnh Thị Trà G báo cáo với Nguyễn Đức M kinh phí thực hiện 02 Kế hoạch thực tế ít hơn so với dự toán kinh phí ban đầu, M đã chỉ đạo G làm chứng từ nâng khống giá trị hàng hoá, mua hoá đơn khống để lập chứng từ quyết toán kinh phí đã được cấp từ nguồn ngân sách Nhà nước. Cụ thể như sau:

Đối với Kế hoạch số 1636/KH-SCT ngày 07/8/2018, Bộ C2 cấp tạm ứng kinh phí thực hiện là 125.000.000 đồng. Khi được G báo cáo lại kinh phí thực tế chi còn dư, M liên hệ với Kế toán trưởng Lữ Thị Thanh P, nói cho P biết việc chi thực tế ít hơn so với dự toán kinh phí được cấp, nhờ P hướng dẫn G làm chứng từ quyết toán nâng khống số tiền nhiều hơn, để lấy tiền từ nguồn ngân sách Nhà nước cho tập thể đơn vị sử dụng, P đồng ý và hướng dẫn G lập chứng từ, làm hợp đồng, thanh lý hợp đồng, biên bản nghiệm thu, mua hóa đơn khống. Sau khi lập xong chứng từ quyết toán khống, G đưa hồ sơ cho M kiểm tra ký tắt, rồi trình Giám đốc Sở ký duyệt thanh toán kinh phí.

Qua điều tra chứng minh được hồ sơ quyết toán kinh phí thực hiện Kế hoạch 1636 có 13 tập chứng từ với 09 hoá đơn giá trị gia tăng, với tổng số tiền quyết toán là 71.282.000 đồng, trong đó thực chi là 34.800.000 đồng, quyết toán khống gây thiệt hại ngân sách Nhà nước là 36.482.000 đồng. Các khoản tiền quyết toán khống đã chứng minh được gồm: Cửa hàng N, địa chỉ Khu phố D, Phường C, thành phố T xuất 04 hoá đơn văn phòng phẩm khống trị giá 7.900.000 đồng; Hộ kinh doanh Photocopy Thu A, địa chỉ đường C, Khu phố C, Phường B, thành phố T xuất 02 hoá đơn photo tài liệu khống trị giá 1.180.000 đồng; Công ty TNHH H4, địa chỉ Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh xuất 01 hoá đơn mua bộ xét nghiệm thực phẩm khống trị giá 15.002.000 đồng; Cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch H, địa chỉ đường C, Khu phố D, Phường B, thành phố T xuất 02 hoá đơn nội dung thuê xe ô tô đi công tác trị giá 30.000.000 đồng, nhưng thực chi tiền thuê xe 18 chuyến số tiền 19.800.000 đồng, nâng khống 10.200.000 đồng. Ngoài ra, G còn lập danh sách chi tiền bồi dưỡng công tác phí cho 41 người và chi tiền điện thoại, tiền giữ xe, vệ sinh hội trường cho 06 người với tổng số tiền 17.200.000 đồng, nhưng thực tế chi là 15.000.000 đồng, quyết toán khống 2.200.000 đồng.

Đối với Kế hoạch số 2332 ngày 05/11/2018, do được M chỉ đạo lập chứng từ nâng khống số tiền quyết toán toàn bộ dự toán kinh phí là 29.986.000 đồng, nên G liên hệ mua hoá đơn khống để lập hồ sơ quyết toán. Sau khi lấy được hoá đơn, G gửi cho bộ phận kế toán làm thủ tục chuyển tiền vào tài khoản của các đơn vị đã xuất hoá đơn, rồi G liên hệ các đơn vị đó để nhận lại tiền mặt hoặc nhận qua chuyển khoản số tiền chênh lệch so với hóa đơn và thực tế chi.

Qua điều tra chứng minh được hồ sơ quyết toán kinh phí thực hiện Kế hoạch 2332 có 06 tập chứng từ với 06 hoá đơn giá trị gia tăng, với tổng số tiền quyết toán là 29.990.000 đồng, trong đó thực chi 11.830.000 đồng, quyết toán khống gây thiệt hại ngân sách Nhà nước 18.156.000 đồng. Các khoản tiền quyết toán khống đã chứng minh được gồm: Hộ kinh doanh P2 xuất 01 hoá đơn photo tài liệu khống trị giá 3.600.000 đồng; Cửa hàng T1, địa chỉ khu phố N, phường N, thành phố T xuất 01 hoá đơn văn phòng phẩm khống trị giá 2.196.000 đồng; Cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch Huy Ngân xuất 01 hoá đơn thuê xe ô tô đi rước giảng viên khống trị giá 2.800.000 đồng; Công ty TNHH X – V, địa chỉ đường C, Khu phố A, Phường A, thành phố T xuất 01 hoá đơn thuê hội trường tổ chức tập huấn trị giá 16.540.000 đồng, nhưng thực tế chi 7.500.000 đồng, nâng khống số tiền 9.040.000 đồng; Cơ sở kinh doanh quán ăn H5, địa chỉ đường T, Khu phố A, Phường A, thành phố T xuất 01 hoá đơn cơm tiếp khách trị giá 3.300.000 đồng, nhưng thực tế chi 2.780.000 đồng, nâng khống số tiền 520.000 đồng.

Qua điều tra xác định tổng số tiền quyết toán 02 Kế hoạch là 101.268.000 đồng, thực chi là 46.632.000 đồng, quyết toán khống gây thiệt hại ngân sách Nhà nước là 54.638.000 đồng, trong đó tiền mua hoá đơn là 5.860.000 đồng, G chi thực tế không có chứng từ là 2.196.000 đồng, để lại quỹ riêng phòng Quản lý thương mại 1.950.000 đồng, còn lại 44.632.000 đồng tiền mặt được sử dụng chung cho đơn vị.

Sau khi thực hiện quyết toán xong, M chỉ đạo G lập bảng kê chi tiết số tiền đã chi, số tiền dư thực tế báo cáo cho Trưởng phòng Nguyễn Đức H3 xem ký tên, rồi đưa cho kế toán P và thủ quỹ Huỳnh Thị Bảo V xem, thống nhất số tiền mặt còn dư thực tế là 44.632.000 đồng, giao cho bà V cất giữ. Ngày 10/4/2019, Sở C1 đã chi số tiền này cho 39 nhân viên, mỗi nhân viên 1.000.000 đồng, nội dung chi bồi dưỡng ngày Lễ Giỗ tổ H, số tiền còn lại 5.632.000 đồng, tiếp tục sử dụng chung cho tập thể. Sau khi phát hiện sai phạm, Sở C1 đã nộp lại số tiền 44.632.000 đồng, G nộp khắc phục hậu quả 5.696.000 đồng, P nộp khắc phục hậu quả 2.360.000 đồng, Phòng quản lý thương mại nộp lại 1.950.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, Huỳnh Thị Trà G, Lữ Thị Thanh P tự nguyện khắc phục số tiền gây thiệt hại ngân sách Nhà nước; thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; Huỳnh Thị Trà G tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án; Lữ Thị Thanh P, Nguyễn Đức M có thành tích xuất sắc trong công tác. Nguyễn Đức M không thành khẩn khai báo, không thừa nhận hành vi chỉ đạo quyết toán khống nguồn ngân sách Nhà nước.

- Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Hoá đơn, chứng từ là chứng cứ được lưu giữ trong hồ sơ vụ án. Số tiền các bị cáo khắc phục hậu quả 10.006.000 đồng được nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 59/2024/HS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức M, bị cáo Huỳnh Thị Trà G, bị cáo Lữ Thị Thanh P phạm tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.

2. Về hình phạt:

Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 356; Điều 35; Điều 36, Điều 41; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức M 01 (một) năm 03 (ba) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Nguyễn Đức M cho Ủy ban nhân dân phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Nguyễn Đức M có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Nguyễn Đức M.

Trong trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt chuyển đi nơi khác, thì Ủy ban nhân dân phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh có trách nhiệm thông báo ngay cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án kèm theo hồ sơ của người đó để Tòa án làm thủ tục cần thiết giao cho cơ quan, tổ chức, nơi bị kết án chuyển đến tiếp tục giám sát, giáo dục

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

Miễn việc khấu trừ thu nhập hàng tháng cho bị cáo Nguyễn Đức M.

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Đức M số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước và cấm đảm nhiệm chức vụ có liên quan 01 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính.

2.2. Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 356; Điều 35, Điều 36; các điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Trà G 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường N, thành phố T được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án, khấu trừ thời gian bị cáo Huỳnh Thị Trà G đã chấp hành từ ngày 30/5/2023 đến ngày 30/9/2023, thời gian chấp hành còn lại là 08 tháng.

Giao bị cáo Huỳnh Thị Trà G cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Huỳnh Thị Trà G có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường N, thành phố T trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Huỳnh Thị Trà G.

Trong trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt chuyển đi nơi khác, thì Ủy ban nhân dân phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh có trách nhiệm thông báo ngay cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án kèm theo hồ sơ của người đó để Tòa án làm thủ tục cần thiết giao cho cơ quan, tổ chức, nơi người bị kết án chuyển đến tiếp tục giám sát, giáo dục

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

Miễn việc khấu trừ thu nhập hàng tháng cho bị cáo Huỳnh Thị Trà G.

Phạt bổ sung bị cáo Huỳnh Thị Trà G số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước và không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ đối với bị cáo. Ghi nhận bị cáo Huỳnh Thị Trà G đã nộp phạt bổ sung số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng theo Biên lai thu số 0000733 ngày 10/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh.

2.3. Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 356; Điều 35, Điều 36; Điều 41; các điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Lữ Thị Thanh P 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Ủy ban nhân dân Phường C3, thành phố T, tỉnh Tây Ninh được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án, khấu trừ thời gian bị cáo Lữ Thị Thanh P đã chấp hành từ ngày 30/5/2023 đến ngày 30/9/2023, thời gian chấp hành còn lại là 08 tháng.

Giao bị cáo Lữ Thị Thanh P cho Ủy ban nhân dân phường C3, thành phố T, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường C3, thành phố T, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát, giáo dục người đó.

Trong trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt chuyển đi nơi khác, thì Ủy ban nhân dân phường C3, thành phố T có trách nhiệm thông báo ngay cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án kèm theo hồ sơ của người đó để Tòa án làm thủ tục cần thiết giao cho cơ quan, tổ chức, nơi người bị kết án chuyển đến tiếp tục giám sát, giáo dục

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

Miễn việc khấu trừ thu nhập hàng tháng cho bị cáo Lữ Thị Thanh P.

Phạt bổ sung bị cáo Lữ Thị Thanh P số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước và cấm đảm nhiệm chức vụ có liên quan 01 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính. Ghi nhận bị cáo Lữ Thị Thanh P đã nộp phạt bổ sung số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng theo Biên lai thu số 0000734 ngày 12/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh.

Bị cáo Nguyễn Đức M có đơn kháng cáo xin xem xét miễn trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo là xin được miễn hình phạt.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức M, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhìn nhận việc làm sai trái của mình. Mong Hội đồng xét xử xem xét miễn hình phạt cho bị cáo, để có điều kiện sửa chữa sai lầm và phục vụ xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tố tụng: Hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đều hợp pháp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xác định trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Trong năm 2018 tại Sở C1, bị cáo M – Phó trưởng phòng quản lý thương mại cùng với bị cáo G – Chuyên viên Phòng quản lý thương mại, bị cáo P – Kế toán Sở C1 đã có hành vi nâng khống số tiền thực chi khi làm hồ sơ quyết toán Kế hoạch số 1636/KH-SCT ngày 07/8/2018 về kiểm tra tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm năm 2018 và Kế hoạch số 2332/KH-SCT ngày 05/11/2018 về việc tổ chức chương trình bồi dưỡng kiến thức về an toàn thực phẩm năm 2018 cho doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm vừa và nhỏ. Số tiền cụ thể như sau:

[2.1]. Hồ sơ quyết toán kinh phí thực hiện Kế hoạch số 1636 với tổng số tiền quyết toán là 71.282.000 đồng, trong đó thực chi là 34.800.000 đồng, quyết toán khống gây thiệt hại ngân sách Nhà nước là 36.482.000 đồng, các khoản tiền quyết toán khống đã chứng minh được gồm: Chi mua văn phòng phẩm 7.900.000 đồng; C photo tài liệu 1.180.000 đồng; mua bộ X1 thực phẩm 15.002.000 đồng; C thuê xe ô tô đi công tác nâng khống 10.200.000 đồng; chi tiền bồi dưỡng công tác phí cho 41 người, chi tiền điện thoại, tiền giữ xe, vệ sinh hội trường cho 06 người số tiền quyết toán khống 2.200.000 đồng.

[2.2]. Hồ sơ quyết toán kinh phí thực hiện Kế hoạch số 2332 với tổng số tiền quyết toán là 29.990.000 đồng, trong đó thực chi 11.830.000 đồng, quyết toán khống gây thiệt hại ngân sách Nhà nước 18.156.000 đồng, cụ thể số tiền quyết toán khống gồm: Photo tài liệu 3.600.000 đồng; chi mua văn phòng phẩm 2.196.000 đồng; thuê xe ô tô 2.800.000 đồng; thuê hội trường tổ chức tập huấn nâng khống số tiền 9.040.000 đồng; chi quán ăn H5 nâng khống số tiền 520.000 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” quy định tại khoản 1 Điều 356 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin miễn hình phạt của bị cáo:

Với vai trò là Phó Trưởng phòng Quản lý thương mại Sở C1, Nguyễn Đức M đã lợi dụng trong việc được giao nhiệm vụ, trực tiếp tham mưu theo dõi, quản lý trong thực hiện 02 Kế hoạch 1636 và 2332 nhưng trong quá trình thực hiện đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ đã cùng với đồng phạm là chuyên viên Huỳnh Thị Trà G thực hiện việc lập chứng từ thanh toán khống các khoản chi cho 02 Kế hoạch này của Sở C1, M chỉ đạo Huỳnh Thị Trà G lập chứng từ hồ sơ quyết toán khống, gây thiệt hại ngân sách Nhà nước với tổng số tiền 54.638.000 đồng. Riêng Lữ Thị Thanh P hướng dẫn, giúp sức cho Nguyễn Đức M, Huỳnh Thị Trà G trong việc lập chứng từ quyết toán khống đối với Kế hoạch số 1636, gây thiệt hại ngân sách Nhà nước số tiền 36.482.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước, hoạt động đúng đắn của cơ quan, đơn vị, quyền sở hữu tài sản, quyền và lợi ích khác của cơ quan, của đơn vị, gây thiệt hại đến tài sản của Cơ quan, đơn vị; đã xâm phạm đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương; làm cho cơ quan, đơn vị bị suy giảm uy tín, mất lòng tin của nhân dân vào Nhà nước nên phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên số tiền gây thiệt hại không lớn, không vì động cơ vụ lợi cá nhân mà vì tập thể, các bị cáo đã khắc phục đầy đủ thiệt hại; có nhiều thành tích xuất sắc quá trình công tác tại đơn vị.

Tại phiên tòa bị cáo xin miễn hình phạt, thấy rằng với hành vi của bị cáo thoả mãn các điều kiện được xem xét miễn hình phạt theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP của Toà án nhân dân Tối cao.

Đối với các bị cáo Huỳnh Thị Trà G, Lữ Thị Thanh P không có đơn kháng cáo. Nhưng xét thấy hành vi, vai trò và thái độ thành khẩn, ăn ăn hối cải của các bị cáo. Căn cứ Điều 345 và khoàn 1, khoản 3 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần xem xét miễn hình phạt cho 02 bị cáo Huỳnh Thị Trà G, Lữ Thị Thanh P.

Có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo M; đề nghị của Viện kiểm sát không phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử, nên không chấp nhận. Sửa bản án sơ thẩm.

[4] Về án phí: Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 23; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b, khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức Minh

Sửa bản án sơ thẩm số: 59/2024/HS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

1.1. Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 356; Điều 59 của Bộ luật Hình sự.

Miễn hình phạt cho bị cáo Nguyễn Đức M về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”

1.2. Căn cứ Điều 345 và khoản 1, khoản 3 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1, khoản 4 Điều 356; Điều 59 của Bộ luật Hình sự.

Miễn hình phạt cho bị cáo Huỳnh Thị Trà G về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”

1.3. Căn cứ Điều 345 và khoản 1, khoản 3 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1, khoản 4 Điều 356; Điều 59 của Bộ luật Hình sự.

Miễn hình phạt cho bị cáo Lữ Thị Thanh P về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”

2. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Đức M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 (TANDTC);
  • - VKSND Tỉnh TN;
  • - VKSND TPTN.
  • - TAND TPTN;
  • - Công an TpTN;
  • - Chi cục THADS. TpTN;
  • - Phòng lý lịch STP. TTN;
  • - Phòng KTNV. TATTN;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án HSPT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Diệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HS-PT ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về hình sự phúc thẩm (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ)

  • Số bản án: 111/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger