Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN PHONG THỎ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2024/HS-ST

Ngày 10-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh
  • Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Văn Chiên
  • 2. Ông Đèo Văn Vĩnh
  • - Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Đoàn - Thư ký Tòa án.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên toà:
  • Bà Nguyễn Thị Xuân- Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 108/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nùng Văn Đ; giới tính: Nam; sinh năm 1994; Nơi sinh: huyện P, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản Màu, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Nùng Văn V, đã chết và con bà Lò Thị L, sinh năm 1972; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Lò Thị S, sinh năm 1994; Con có 01 con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 14/4/2017 Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã chấp hành xong bản án và đã được xóa án tích .

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/5/2024 đến ngày 12/5/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L cho đến nay. Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Xuân O – Luật sư ký hợp đồng thực hiện trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 03/5/2024, Nùng Văn Đ đi bộ sang nhà Vàng Văn C, sinh ngày 30/5/2000 ở cùng bản. Đ hỏi C biết chỗ nào mua được nhiều Heroine thì mua hộ về để sử dụng và bán kiếm lời. Chuyển nói có biết và bảo mỗi người góp 1.250.000 đồng để đi mua Heroine, Đ đồng ý. Sau đó, Đ đưa cho C số tiền 1.250.000 đồng rồi đi về. Khoảng 13 giờ cùng ngày, Đ sang nhà C hỏi: mua được Heroine chưa, Chuyển trả lời: được rồi. ĐC cùng đi xuống nhà vệ sinh mở gói Heroine (gói bằng mảnh nilon màu đen) do C mua được dùng dao lam chia thành 43 gói nhỏ (từng gói được gói bằng mảnh nilon màu xanh). Đ cầm 02 gói Heroine, C cầm 01 gói Heroine; còn 40 gói Heroine Đ1C thỏa thuận để Chuyển cất giấu bán kiếm lời, giá 100.000 đồng/gói, tiền lời chia nhau sau. Sau đó, Đ1 đi về nhà, trong ngày 04/5/2024 và sáng ngày 05/5/2024, Đ1 lấy 02 gói Heroine ra sử dụng hết. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 05/5/2024, Đ1 đang ở nhà thì C đến chơi, tay cầm lọ nhựa màu trắng đựng 40 gói Heroine. Thấy vậy, Đ1 nói: mày cầm H đi theo ở trong bản không sợ à, mang đi giấu đi. Lúc này, C cầm lọ nhựa đi xuống chuồng gà nhà Đ1 cất giấu trong chiếc rổ làm ổ cho gà nằm. Hồi 12 giờ 00 phút ngày 05/5/2024, Nùng Văn Đ đang ở nhà tại bản M, xã N, X, huyện P thì Công an xã N phát hiện, bắt quả tang hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”, Đ tự ra chuồng gà lấy 01 lọ nhựa màu trắng, bên trong đựng 40 gói Heroine giao nộp cho lực lượng Công an. Khi thấy lực lượng Công an đến nhà Đ, Vàng Văn C đã bỏ chạy ra khỏi nhà nên không bắt giữ được. Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nùng Văn Đ, Vàng Văn C, quá trình khám xét không thu giữ gì.

Tại bản Kết luận giám định số 28 ngày 06/5/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: tổng khối lượng vật chứng thu giữ của Nùng Văn Đ là: 2,17 gam. Tại bản Kết luận giám định số 524 ngày 10/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 40 mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma tuý, loại Heroine.

Bản cáo trạng số 62/CT-VKSPT ngày 16/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo Nùng Văn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về bản kết luận điều tra số 61/KLĐT ngày 02/8/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện P và bản Cáo trạng nêu trên.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự và xử lý vật chứng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ và nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo.

Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa người bào chữa thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định của pháp luật.

[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: hồi 12 giờ 00 phút ngày 05/5/2024, tại bản Màu, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu, bị cáo Nùng Văn Đ đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 40 gói Heroine có tổng khối lượng 2,17 gam, mục đích để bán kiếm lời thì bị Công an xã N, huyện P phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, quan điểm đề nghị về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để bán lẻ kiếm lời là vì mục đích tư lợi bất chính nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, khi công án phát hiện bắt quả tang xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu bằng test nhanh kết quả xác định trong nước tiểu của bị cáo phát hiện có ma túy nhóm O1 (M, Heroine); quá trình sinh sống tại địa phương thường xuyên qua lại với các đối tượng nghiện chất ma túy gây mất trật tự trị án trên địa bàn xã N, huyện P. Bị cáo đã từng bị Tòa án xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy, đề nghị của người bào chữa về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, nguồn thu thấp, không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án:

Đối với 2,17 gam Heroine thu giữ của bị cáo, Cơ quan điều tra đã lấy toàn bộ gửi giám định chất ma túy (không hoàn lại mẫu vật) Hội đồng xét xử không xem xét.

Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 40 mảnh nilon màu xanh, 01 phong bì niêm phong đã mở, 01 lọ nhựa màu trắng là vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[6] Những vấn đề liên quan:

Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Nùng Văn Đ khai góp tiền cùng Vàng Văn C mua về để bán kiếm lời, C là người trực tiếp đi mua ma túy. Ngoài lời khai của Đ, quá trình điều tra không thu thập được tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh hành vi của C. Cơ quan điều tra tiến hành triệu tập lấy lời khai nhiều lần nhưng C không có mặt tại nơi cư trú. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ hành vi của C, khi nào đủ căn cứ sẽ tiếp tục xử lý đối với Vàng Văn C.

[7] Về án phí:

Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn và là hộ nghèo nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nùng Văn Đ phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ 06/5/2024.
  3. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
  4. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 40 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ phong bì niêm phong đã mở, 01 lọ nhựa màu trắng có nắp màu trắng.

    (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15 giờ 00 phút ngày 25/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ).

  5. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Phong Thổ;
  • - Chi Cục THADS huyện Phong Thổ;
  • - CQCS ĐT Công an huyện Phong Thổ;
  • - CQ THAHS Công an huyện Phong Thổ;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Tuyết Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của Toà án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 111/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nùng Văn Đ phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger