|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 111/2024/DS-PT Ngày: 10 – 7 – 2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Ngân
Các Thẩm phán: Ông Dương Quốc Tuấn
Bà Lê Thị Thọ
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Kiều Trinh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Phùng Bích Tuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, công khai xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 93/2024/TLPT-DS ngày 23 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 6 năm 2024 và Thông báo về việc dời ngày xét xử số 28/TB-TA ngày 19 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị K, sinh năm 1953
Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đặng Văn T, sinh năm 1953.
Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
- Bị đơn: Bà Trương Thị T1
Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trương Thị T1:
- Bà Lê Thị Ngọc D, sinh năm 1983
- Ông Thái Trung N, sinh năm 1981
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1999
- Ông Nguyễn Thái V, sinh năm 1998
- Ông Dương Minh P, sinh năm 2000
- Bà Võ Ngọc N1, sinh năm 2001
Cùng địa chỉ liên hệ: B N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Người kháng cáo: bị đơn bà Trương Thị T1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung vụ án như sau:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Đặng Văn T trình bày:
Vào ngày 21/4/2006 (âm lịch), bà Võ Thị K có cho bà Trương Thị T1 vay số vàng là 10 chỉ vàng 24k, thời hạn vay là 01 tháng, tiền lãi là 40.000 đồng. Khi cho vay có làm biên nhận, bà T1 đã nhận đủ 10 chỉ vàng 24k và có ký tên, biên nhận do bà T1 viết và chỉ làm 01 bản do bà K giữ, tên mợ tám trong biên nhận là tên ở địa phương của bà Võ Thị K. Tuy nhiên, khi làm biên nhận thì bà T1 ghi trong biên nhận là ngày “21-4-206” và “400 ngàn”, đúng là ngày “21-4-2006" và “40 ngàn”. Sau đó một tháng thì bà T1 không trả và xin được đóng lãi hàng tháng, bà T1 đóng được 04 tháng thì ngưng không đóng nữa, bà K có xuống nhà bà T1 để đòi nợ thì bà T1 không có nhà và xuống ghe đi mua bán lúa. Khoảng đầu năm 2023, bà K có gặp lại bà T1 yêu cầu trả nợ nhưng vẫn không trả. Do đó, bà K khởi kiện yêu cầu bà T1 phải trả cho bà số vàng là 10 chỉ vàng 24k, loại 98%.
Quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn bà Trương Thị T1 trình bày: Vào khoảng ngày 21/4/2006 (âm lịch), bà có hỏi vay bà Võ Thị K số vàng là 10 chỉ vàng 24k, thời hạn vay là 01 tháng, tiền lãi là 400.000 đồng. Khi vay có làm biên nhận, bà đã nhận đủ 10 chỉ vàng 24k và có ký tên vào biên nhận, biên nhận chỉ làm 01 bản do bà K giữ, là biên nhận mà bà K cung cấp cho Tòa án. Đúng 01 tháng sau, bà đem vàng xuống trả, khi đó bà đòi lấy lại biên nhận nợ thì bà K nói hiện tại tìm không gặp, nói bà cứ trả đi và yên tâm bà K sẽ không đòi nữa. Bà T1 đồng ý nên đã trả cho bà K 10 chỉ vàng 24k và 400.000 đồng tiền lãi vào ngày 21/5/2006 (âm lịch). Sau đó vài ngày bà thấy không yên tâm nên có xuống gặp bà K nhờ kiếm lại biên nhận nhưng bà K nói vẫn không tìm gặp biên nhận nên bà có kêu bà K viết cho bà mấy chữ thì bà K có viết tờ giấy với nội dung “T1 trả rồi”. Sau khi viết xong thì bà T1 giữ giấy này nhưng do quá lâu, đã 17 năm rồi nên bà đã làm mất giấy này. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của bà K thì bà không đồng ý, vì bà đã trả nợ xong cho bà K số vàng này.
Tại phiên tòa: Ông T trình bày giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu bà T1 phải trả cho bà K số vàng là 10 chỉ vàng 24k, loại 98%, không yêu cầu tính lãi đối với số vàng trên; bị đơn bà Trương Thị T1 xác nhận có vay của bà K 10 chỉ vàng 24k, loại 98% nhưng bà đã trả rồi, bà K có viết cho bà mấy chữ “T1 trả rồi” do lâu ngày quá bà bỏ mất không tìm thấy để cung cấp cho tòa. Bà đã trả rồi nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tuyên xử như sau:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị K đối với bị đơn bà Trương Thị T1.
- Buộc bà Trương Thị T1 phải trả cho bà Võ Thị K số vàng là 10 (mười) chỉ vàng 24k, loại 98%.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 29 tháng 01 năm 2024, bị đơn bà Trương Thị T1 có đơn kháng cáo. Nội dung kháng cáo: sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Võ Ngọc N1 trình bày: bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Đặng Văn T trình bày: nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và thống nhất theo nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang trình bày quan điểm:
- Về chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29 tháng 01 năm 2024, bị đơn bà Trương Thị T1 có đơn kháng cáo đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được xem là hợp lệ và chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Trương Thị T1:
Nguyên đơn bà K và bị đơn bà T1 thống nhất với nhau về số tiền 10 chỉ vàng 24k bà K cho bà T1 vay theo biên nhận ngày 12-4-2006. Theo biên nhận ngày 21-4-2006, có chữ ký của bà Trương Thị T1 với nội dung “Tôi tên: Trương Thị T1 có hỏi của mợ tám 10 chỉ vàng vào ngày 21-4-206, tại cấp sơ thẩm, đại diện nguyên đơn và bị đơn đều xác nhận loại vàng cho vay là vàng 24k loại 98% phổ biến tại huyện C. Hai bên thỏa thuận hàng tháng có đóng lời 400 ngàn tới ngày 21-5-206 trả”. Bà T1 thừa nhận có vay vàng như nguyên đơn trình bày, có ký vào biên nhận nợ. Tuy nhiên bà đã trả rồi nhưng bà K kêu mất biên nhận nên ghi cho bà mấy chữ “T1 trả rồi” nhưng biên nhận này bà đã làm mất. Điều này chứng minh, bà T1 thừa nhận có vay vàng như bà K trình bày, nhưng bà T1 lại không chứng minh được bà đã trả cho bà K số vàng trên. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà K buộc bà T1 trả số vàng là 10 (mười) chỉ vàng 24k, loại 98% là có căn cứ.
Về vấn đề áp dụng thời hiệu do bị đơn đưa ra, Hội đồng xét xử nhận thấy, Theo hợp đồng vay thì thời điểm vay là tháng 4 năm 2006, thời hạn trả là tháng 5 năm 2006, phía bị đơn vi phạm nghĩa vụ nhưng đến thời điểm hiện tại nguyên đơn mới khởi kiện là 17 năm. Tuy nhiên, tại cấp sơ thẩm các đương sự không ai yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện. Do đó, căn cứ Điều 149 Bộ luật Dân sự và Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng thời hiệu khởi kiện trong vụ án này là có căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, phía bị đơn có giao nộp các tài liệu, chứng cứ chứng minh việc bà T1 có mặt tại địa phương từ thời điểm bà K cho vay đến nay đã hơn 17 năm chứ không như lời trình bày của nguyên đơn. Do thực tế bà đã trả xong nên bà K mới không đòi nợ bà, nay bà K khởi kiện bà là không đúng. Hội đồng xét xử xét thấy, vấn đề bị đơn đưa ra là không có căn cứ để chấp nhận vì bà K có quyền khởi kiện đối với bà T1 theo quy định tại Điều 4 Bộ luật tố tụng dân sự, việc bà K khởi kiện tại thời điểm nào không được xem là căn cứ để xác định việc bà T1 đã trả nợ cho bà K hay chưa. Do đó, việc bà T1 cho rằng đã trả xong số vàng cho bà K là không có cơ sở chấp nhận.
[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Trương Thị T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: bị đơn bà Trương Thị T1 phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bà Trương Thị T1;
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
Áp dụng:
- - Các Điều 149, Điều 117, 118, 119, Điều 463, Điều 466, Điều 688 Bộ luật dân sự 2015
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị K đối với bị đơn bà Trương Thị T1.
- Buộc bà Trương Thị T1 phải trả cho bà Võ Thị K số vàng là 10 (mười) chỉ vàng 24k, loại 98%.
- Án phí dân sự sơ thẩm bà Trương Thị T1 phải chịu 3.050.000 đồng (ba triệu không trăm năm mươi ngàn đồng).
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trương Thị T1 phải nộp là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0004382 ngày 29/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ngày 10/7/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thanh Ngân |
Bản án số 111/2024/DS-PT ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 111/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
